

Bệnh đậu gà là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra thường xuất hiện ở gà trong giai đoạn từ 25-50 ngày tuổi.
1. Nguyên nhân gây ra bệnh đậu gà - Fowl pox
Bệnh gây ra bởi virus thuộc họ Poxviridae và giống Avipoxvirus. Virus gây bệnh ở mọi lứa tuổi gà, nhưng nặng ở gà nhỏ. Bệnh xảy ra chủ yếu vào cuối xuân và đầu hè. Lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với gà nhiễm bệnh hoặc gián tiếp qua động vật hút máu như muỗi, ruồi.
2. Dịch tễ của bệnh đậu gà - Fowl pox
Bệnh đậu gà hay còn gọi là bệnh trái gà. Bệnh do virus gây nên với đặc tính nổi những mụn sần sùi ở trên da, mào, tích và trong miệng, trên mũi làm cho gà không ăn được, tăng trọng giảm và chết.
Bệnh có ở hầu hết các nước trên thế giới. Đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
3. Phương thức truyền lây bệnh đậu gà - Fowl pox
Virus xâm nhập vào cơ thể do muỗi đốt hoặc vết cắn của côn trùng.
Qua vết thương cơ giới( sàn chuồng, máng ăn làm rách niêm mạc ở da).
Không có tình trạng mang trùng trong gà.
4. Triệu chứng truyền lây bệnh đậu gà - Fowl pox
Thời gian mang bệnh từ 4 -14 ngày kể từ khi nhiễm mầm bệnh. Mầm bệnh lây lan ra cả đàn gà trong vòng 2-3 tuần. Bệnh có thể xuất hiện ở những đàn gà được miễn dịch cục bộ mà không biểu hiện bất cứ dấu hiệu nào. Ở gà lớn tốc độ tăng trưởng chậm và ở gà đẻ cũng bị giảm sản lượng trứng trong giai đoạn nhiễm bệnh. Bệnh thể hiện ở 2 dạng như sau:
Dạng ngoài da
Ở vùng không có lông có nhiều lỗ bị viêm. Thỉnh thoảng ở các lỗ chân lông xuất hiện các mụn, đầu tiên mụn nhỏ trắng, sau đó lớn dần và có màu vàng. Bệnh này có thể tích tụ lại trở nên thô và có màu xám hoặc màu nâu sậm. Bệnh tích ở những vùng viêm sâu thấy có phủ một lớp vẩy. Sau một thời gian bong ra không để lại sẹo.
Thể bạch hầu
Viêm bạch hầu có phủ màng nhầy và hình thành những mụn nhỏ trắng đục. Sau đó những mụn này lớn dần, liên kết lại với nhau thành mảng màu vàng, hoại tử, có chất bã đậu phủ lên trên những vết loét.
Quá trình viêm này có thể lan tới mũi và đường hô hấp. Đây là nguyên nhân gây ra những triệu chứng đặc trưng của đường hô hấp. Trong những trường hợp nặng, khí quản bị bịt kín giống như bệnh ILT.
Gà bỏ ăn do miệng bị viêm.
Nếu nhiễm trùng vết loét thì bệnh nặng hơn, kèm theo các bệnh khác hoặc tiêu chảy.
Tỷ lệ chết ít 5-10%. Sau khi bị bệnh, gà tạo được miễn dịch suốt đời.
5. Bệnh tích của bệnh truyền lây bệnh đậu gà - Fowl pox
Bệnh tích nổi rõ ở da, niêm mạc, hầu, mũi. Những mụn trắng sau sậm nâu.
Các cơ quan phủ tạng không có bệnh tích gì.
6. Chẩn đoán bệnh truyền lây bệnh đậu gà - Fowl pox
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích trên da và trên niêm mạc hầu.
Phân lập và giám định virus ở những nơi triệu chứng và bệnh tích không đặc hiệu.
Lấy bệnh phẩm viêm trên màng nhung niệu của phôi gà 9-10 ngày tuổi. Virus sẽ gây những bệnh tích trên màng nhung niệu.
Lấy bệnh phẩm đem cấy vào gà khoẻ mạnh, bằng cách rạch mào của gà trống non sau đó xát bệnh phẩm vào vết thương. Nếu bệnh phẩm miễn dịch thì sau 10 ngày có bệnh tích điển hình.
7. Phòng bệnh đậu gà- Fowl pox
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Sử dụng vaccin là cách tốt nhất để kiểm soát bệnh.
Chủng vaccine Đậu theo lịch khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bước 4: Xử lý cục bộ
Dùng Xanhmetylen bôi trực tiếp vào nốt đậu 1-2 lần/ngày đến khi vảy đậu bong hết ra thì dừng.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh đậu gà - Fowl pox
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý nguyên nhân
Kích thích tăng Interferon bằng AURASHIELD L pha 2ml/lít, cho uống 6-8 giờ/ngày, sử dụng 5-6 ngày.
Khuyến cáo: Khi đàn gà phục hồi hoặc khỏe mạnh trở lại cần chủng vaccine Đậu theo lịch trình
Bước 4: Xử lý cục bộ
Dùng Xanhmetylen bôi trực tiếp vào nốt đậu 1-2 lần/ngày đến khi vảy đậu bong hết ra thì dừng.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Bước 6: Kiểm soát kế phát
Dùng GIUSE OS 200 liều: 1ml/15kg TT/ngày. Hoặc ENROFLON 10% ORAL liều 1ml/10kg TT/ngày.Uống liên tục 3-5 ngày.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH GUMBORO TRÊN GÀ – INFECTIOUS BURSAL DISEASE (IBD)
Bệnh Gumboro (IBD: Infectious Bursal Disease ) là một căn bệnh truyền nhiễm cấp tính gây suy giảm hệ miễn dịch của gà
1. Nguyên nhân gây ra bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Gà là động vật nhạy cảm với bệnh này. Phần lớn tuổi mẫn cảm từ 12 tuần trở xuống.
Ở Việt Nam trong mấy năm gần đây thấy gà công nghiệp và gà ta đều nhiễm bệnh này.
Những gà cao sản như gà Goldline 54, Isabrown, và gà thịt Hybro, tỷ lệ nhiễm bệnh rất cao. Tỷ lệ chết có đàn tới 50-60%.
2. Dịch tễ của bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Lây qua trứng từ mẹ sang con.
Lây qua đường hô hấp và tiêu hoá do gà hít thở hoặc ăn uống phải mầm bệnh.
Lây nhiễm qua dụng cụ chăn nuôi hay vaccin được chế từ phôi gà đã bị nhiễm virus.
Khi virus xâm nhập vào cơ thể nó sinh sôi phát triển trong tế bào Macrophage và Lympho của ống tiêu hoá và gan, sau đó di chuyển tới túi Fabricius. Túi Fabricius bị viêm, sưng to sau teo đi không còn khả năng sản sinh kháng thể. Cho nên kviệc tiêm phòng vaccin cho các bệnh khác kết quả kếm và khả năng bội nhiễm các bệnh truyền nhiễm khác trong cơ thể tăng.
3. Phương thức truyền lây bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Bệnh lây nhiễm qua hô hấp do con vật hít phải không khí trong chuồng nuôi đã nhiễm mầm bệnh.
Lây qua thức ăn, nước uống do những con bệnh thải mầm bệnh vào thức ăn, nước uống từ dịch nước miếng và thanh dịch ở mũi.
Lây qua những dụng cụ chăn nuôi và người chăn nuôi đã nhiễm mầm bệnh.
Bình thường virus không truyền qua trứng nhưng một số báo cáo gần đây ở một số nước cho biết virus có khả năng truyền lây qua trứng
4. Triệu chứng truyền lây bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Hậu môn co bóp rất nhanh, mạnh không bình thường, giống như gà có phản xạ đi ỉa nhưng không thực hiện được; Gà sốt rất cao, ủ rũ, nằm phủ phục, chồng đống lên nhau; Bệnh tiến triển nhanh, chỉ sau 6-8 giờ là có triệu chứng lâm sàng; Gà tiêu chảy phân loãng, lúc đầu có màu trắng ngà sau đó chuyển dần sang màu vàng trắng, xanh vàng, đôi khi lẫn máu.
Tỷ lệ chết cao 5-30%, vài trường hợp lên đến 60-80% do bội nhiễm các bệnh khác.
5. Bệnh tích của bệnh truyền lây bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Mổ ngày đầu mới phát bệnh thấy túi Fabricius sưng to và có nhiều dịch nhầy trắng.
Mổ ngày thứ hai sau khi phát bệnh thấy túi Fabricius sưng đỏ, thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy bên trong.
Mổ ngày thứ 3 thấy túi Fabricius xuất huyết lấm tấm hoặc cả đám. Tiền mề(phần giáp ranh giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ) xuất huyết vệt. Cơ đùi và ngực xuất huyết vệt đỏ hoặc thâm đen.
Mổ ngày thứ 5,6,7 của bệnh thấy túi Fabricius teo nhỏ lại, cơ đùi và ngực bầm tím từng vệt, xác nhà nhợt nhạt.
6. Chẩn đoán bệnh truyền lây bệnh Gumboro trên gà
Căn cứ trên triệu chứng lâm sàng, bệnh tích và dịch tễ học như trên.
Phần kính tế bào tuyến Bursa để kiểm tra tổ chức học( tế bào tuyến Bursa để kiểm tra tổ chức học( tế bào tuyến Bursa bị teo nhỏ lại còn các phần chất sơ bao xung quanh tế bào Burasa tăng lên).
Làm phản ứng trung hoà với huyết thanh đặc hiệu.
Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích gần giống.
7. Phòng bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Sử dụng vaccin là cách tốt nhất để kiểm soát bệnh.
Chủng vaccine Gumboro theo lịch khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh Gumboro (IBD) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý nguyên nhân
Kích thích tăng Interferon bằng AURASHIELD L pha 2ml/lít, cho uống 6-8 giờ/ngày, sử dụng 5-6 ngày.
Khuyến cáo: Khi đàn gà phục hồi hoặc khỏe mạnh trở lại cần chủng vaccine Newcastle theo lịch trình.
Bước 4: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Bước 6: Kiểm soát kế phát
Dùng MOXCOLIS liều: 1g/10kg TT/ngày. Hoặc GIUSE OS 200 liều: 1ml/15kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH NEWCASTLE TRÊN GÀ ( DỊCH TẢ GÀ) – ND
Bệnh Newcastle (ND) là một bệnh truyền nhiễm ở gia cầm nuôi và các loài chim khác do virus gây bệnh Newcastle độc lực (NDV) gây ra.
1. Nguyên nhân gây ra bệnh Newcastle trên gà
Nguyên nhân do virus thuộc loại Paramyxovirus, type 1. Bệnh lây lan qua đường hô hấp, tiêu hoá và qua tiếp xúc trực tiếp. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và ở bất cứ thời điểm nào, đặc biệt là vào mùa lạnh.
2. Dịch tễ của bệnh Newcastle trên gà
Bệnh xảy ra quanh năm.
Gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh.
Bệnh lây lan trực tiếp do tiếp xúc qua không khí.
Tỷ lệ mắc bệnh 60 – 80%, tỷ lệ chết tuỳ thuộc vào độc lực của virus gây bệ Nếu do chủng virus có độc lực mạnh gây bệnh thì tỷ lệ chết có thể lên tới 70 – 90%.
3. Phương thức truyền lây bệnh Newcastle trên gà
Do việc nhập khẩu gia cầm từ nước bị nhiễm bệnh sang nước chưa có mầm bệnh.
Lây qua gia cầm khác và chim hoang dã đã bị nhiễm bệnh di cư sang vung chưa nhiễm bệnh.
Do nhập đàn mới vào đàn cũ mà 1 trong 2 đàn trên đã có đàn bị nhiễm bệnh.
Lây nhiễm từ vaccine đã nhiễm mầm bệnh có độc lực mạnh(mầm bệnh này nhiễm từ gà mẹ sang trứng vào phôi). Những trứng này lại đem chế vaccine, vì vậy ngay trong vaccine đã có mầm bệnh độc lực mạnh.
Lây qua xác chết từ những gà bệnh. Những con khoẻ mổ phải hoặc hít phải mầm bệnh có trong môi trường chuồng trại.
Lây nhiễm qua dụng cụ và người chăn nuôi đã nhiễm bệnh.
4. Triệu chứng bệnh Newcastle trên gà
Thể quá cấp tính: Thường xuất hiện ở đầu ổ dịch; Bệnh tiến triển rất nhanh, gà ủ rũ sau vài giờ là chết, không biểu hiện triệu chứng.
Thể cấp tính: Gà ủ rũ, kém ăn, bỏ ăn; Xù lông, xã cánh; Mào tích tím bầm; Thở khó, chảy nước rãi, rướn cổ để thở, cuối cơn rít phát ra tiếng “toóc” đặc trưng; Tiêu chảy, phân xanh, trắng xanh, sau chuyển sang màu nâu sẫm; Hậu môn xuất huyết thành những tia màu đỏ; Gà gầy nhanh và chết sau 2-3 ngày kể từ khi có triệu chứng đầu tiên.
Thể mạn tính: Gà có triệu chứng thần kinh như: Ngoẹo đầu, đi giật lùi, vòng tròn, mổ không trúng thức ăn, co giật khi có những tiếng động hoặc bị kích thích; Chăm sóc tốt, gà có thể khỏi nhưng vẫn có triệu chứng thần kinh.
5. Bệnh tích của bệnh Newcastle trên gà
Thể quá cấp tính: Bệnh tích không rõ ràng.
Thể cấp và mạn tính: Xuất huyết lỗ tuyến ở dạ dầy tuyến, dạ dày cơ xuất huyết; Ruột non xuất huyết, viêm, trong trường hợp bệnh kéo dài, có thể có những nốt loét hình tròn, bầu dục, cúc áo. Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan xuống ruột già, ruột non, trên bề mặt nốt loét phủ một lớp màng giả, nhìn kỹ thấy màng giả có hình xoáy ốc.
6. Chẩn đoán bệnh Newcastle trên gà
Trong những vùng thường xảy ra dịch, việc chẩn đoán phải căn cứ vào triệu chứng lâm sang, bệnh tích và dịch tễ học, đồng thời làm phản ứng huyết thanh học. Nhưng đối với những vùng mới bị nhiễm bệnh hoặc có những dạng bệnh lý mới thì cần phải phân lập và giám định virus. Bệnh phẩm để phân lập virus nên chọn những gà đang ở giai đoạn ủ bệnh hay ở giai đoạn mới phát bệnh.
Dùng phôi gà để chẩn đoán.
Dùng gà khoẻ mạnh để chẩn đoán.
Dùng môi trường nuôi cấy tế bào để chẩn đoán.
Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học.
Chẩn đoán bằng phương pháp thử thách.
Chẩn đoán bằng phản ứng kháng thể huỳnh quang.
Khả năng tạo miễn dịch sau khi nhiễm bệnh Newcastle.
7. Phòng bệnh Newcastle trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Sử dụng vaccin là cách tốt nhất để kiểm soát bệnh.
Chủng vaccine Newcastle theo lịch khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh Newcastle trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý nguyên nhân
Kích thích tăng Interferon bằng AURASHIELD L pha 2ml/lít, cho uống 6-8 giờ/ngày, sử dụng 5-6 ngày.
Khuyến cáo: Khi đàn gà phục hồi hoặc khỏe mạnh trở lại cần chủng vaccine Newcastle theo lịch trình.
Bước 4: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt, giảm đau, thông khí quản và kích thích miễn dịch: Bằng AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, dùng liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc gan – thận cấp: Bằng PRODUCTIVE HEPATO pha 1ml/1-2lít nước uống, dùng liên tục đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bước 5: Tăng sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Bước 6: Kiểm soát kế phát
Dùng GIUSE OS 200 liều 1ml/15kg TT/ngày. Hoặc MOXCOLIS liều: 1g/10kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH NẤM DIỀU VÀ NẤM PHỔI TRÊN GÀ
Nguyên nhân gây bệnh nấm phổi phổ biến nhất là do nấm Aspergillus fumigatus gây ra, đôi khi có thể do nấm A. flavus. Nguyên nhân gây bệnh nấm diều là do nấm men Candida albicans gây ra.
1. Nguyên nhân gây nấm diều và nấm phổi trên gà
Gây ra bởi nấm Aspergillus fumigatus và Aspergillus flavus. Tất cả các loài gia cầm đều mắc bệnh, đặc biệt vịt, ngỗng cảm thụ mạnh nhất. Lứa tuổi cảm thụ từ 1-3 tuần.
2. Dịch tễ của bệnh nấm diều và nấm phổi trên gà
Bệnh xảy ra quanh năm.
Gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh.
Bệnh xuất hiện ở các nước có nuôi gà tập trung và tỷ lệ chết từ 2-20%.
3. Phương thức truyền lây bệnh nấm diều và nấm phổi
Lây qua đường hô hấp do hít thở phải bào tử nấm Aspergillus trong môi trường chuồng nuôi.
Lây qua niêm mạc mắt do gió thổi qua đưa bào tử nấm vào màng kết mạc.
Lây qua máy ấp đã bị nhiễm nấm, khi gà nở ra hít thở phải bào tử nấm.
Lây qua dụng cụ, hộp đựng gà con đã bị nhiễm nấm, khi bỏ gà vào thì chúng bị lây nhiễm qua hít thở.
4. Triệu chứng bệnh nấm diều và nấm phổi
Thể cấp tính: Giảm tính thèm ăn, mệt mỏi, uể oải, há miệng thở, ngáp nhưng không ra tiếng, thở nhanh, đôi khi thấy triệu chứng thần kinh.
Thể mạn tính: Con vật chảy nước mắt, gầy mòn dần.
5. Bệnh tích của bệnh nấm diều và nấm phổi
Các u nấm rắn, màu vàng, trắng hoặc xám có thể hình thành ở phổi, túi khí, khí quản, trên lớp màng phổi, màng phúc mạc. Nấm có thể phát triển thành lớp màng màu xanh xám. Đôi khi cũng thấy ở trứng gà khi ấp bị nhiễm nấm.
6. Chẩn đoán bệnh nấm diều và nấm phổi
Trong những vùng thường xảy ra dịch, việc chẩn đoán phải căn cứ vào triệu chứng lâm sang, bệnh tích và dịch tễ học, đồng thời làm phản ứng huyết thanh học. Nhưng đối với những vùng mới bị nhiễm bệnh hoặc có những dạng bệnh lý mới thì cần phải phân lập và giám định virus. Bệnh phẩm để phân lập virus nên chọn những gà đang ở giai đoạn ủ bệnh hay ở giai đoạn mới phát bệnh.
Dùng phôi gà để chẩn đoán.
Dùng gà khoẻ mạnh để chẩn đoán.
Dùng môi trường nuôi cấy tế bào để chẩn đoán.
Chẩn đoán bằng phương pháp huyết thanh học.
Chẩn đoán bằng phương pháp thử thách.
Chẩn đoán bằng phản ứng kháng thể huỳnh quang.
Khả năng tạo miễn dịch sau khi nhiễm bệnh Newcastle
7. Phòng bệnh nấm diều và nấm phổi
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Kiểm soát bệnh bằng hóa chất kháng nấm
Dùng CuSO4 liều: 1gam/4 lít nước, phun vào những vùng nấm phát triển.
Dùng CuSO4 liều: 1gam/4 lít nước, ngân dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống, đường ống nước.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh ILT trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng hóa chất kháng nấm
Cho uống CuSO4 liều 1gam/4 lít nước. Uống 2 giờ/1ngày, liên tục trong 3 ngày.
Hoặc cho uống Gential Violet liều 80ml/1000 gà. Uống 2 giờ/1ngày, liên tục trong 3 ngày.
Hoặc cho uống Nystatin liều 50.000UI/1kg TT. Uống 2 giờ/1ngày, liên tục trong 3 ngày.
Bước 4: Xử lý mầm bệnh kế phát
Dùng GIUSE OS 200 liều 1g/15kg TT/ngày. Kết hợp với YENLISTIN 40% liều 1g/80kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Bước 5: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt, giảm đau, thông khí quản và kích thích miễn dịch: Bằng AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, dùng liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc gan – thận cấp: Bằng PRODUCTIVE HEPATO pha 1ml/1-2lít nước uống, dùng liên tục đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bước 6: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH VIÊM THANH KHÍ QUẢN TRUYỀN NHIỄM TRÊN GÀ – INFECTIOUS LARYNGOTRACHEITIS (ILT) ILT
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (Infections laryngotracheitis – ILT) là một bệnh truyền nhiễm do virus gây viêm đường hô hấp chủ yếu ở khí quản và thanh quản, làm cho gà thở khó, thở khò khè rồi chết (do chất dịch viêm đông đặc trong khí quản).
1. Nguyên nhân gây bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) trên gà
Gây ra bởi Herpes virus. Bệnh truyền lây qua tiếp xúc trực tiếp với gà bị bệnh hoặc gà đã khỏi bệnh nhưng còn bài thải mầm bệnh; Hoặc truyền lây gián tiếp qua dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, người chăm sóc, động vật hoang rã.
2. Dịch tễ của bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) trên gà
Bệnh do virus thuộc nhóm Herpes gây ra, xảy ra trên tất cả các loại gia cầm bao gồm: gà, gà tây, gà lôi... chim, ngỗng cũng có ghi nhận nhiễm bệnh tuy nhiên mức độ trầm trọng không cao.
Tuổi gia cầm mắc bệnh thường từ sau 20 ngày đến dưới 1 năm tuổi, bệnh nặng nhất vào giai đoạn gà được 3 - 5 tháng tuổi.
Virus chết rất nhanh trong điều kiện môi trường thông thường nhưng trong môi trường phân gà hay trong mô nhiễm bệnh virus có thể tồn tại tới 100 ngày.
Khi ở nhiệt độ âm virus vẫn có thể tồn tại trong nhiều tháng.
Gia cầm sau khi đã được điều trị khỏi bệnh vẫn tiếp tục bài thải mầm bệnh ra môi trường, do vậy việc ILT tái bùng phát tại các trại đã nhiễm bệnh trong cùng một lứa nuôi là rất cao.
3. Phương thức truyền lây bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT)
Truyền qua đường hô hấp, qua niêm mạc mắt vào xoang mắt rồi xuống đường hô hấp.
Truyền qua các dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm mầm bệnh.
Truyền lây do nhập đàn mới đã bị nhiễm bệnh hoặc đàn cũ đã mang trùng lây lan.
Không truyền qua trứng.
4. Triệu chứng bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) trên gà
Thể quá cấp tính: Thở khò khè, há miệng, rướn cổ để thở, ho và khạc đờm; Đờm đặc lẫn máu; Tỉ lệ chết lên tới 70% tổng đàn.
Thể cấp tính: Gà thở khò khè, ho bắn ra cả chất như bã đậu; Viêm giác mạc và sưng; Chảy nước mắt, nước mũi nhiều. Tỉ lệ mắc bệnh cao, nhưng tỉ lệ chết 10-30%.
Thể mạn tính: Gà gật gù, ủ rũ, viêm giác mạc; Niêm mạc họng viêm xuất huyết, chứa nhiều đờm dãi. Tỷ lệ đẻ giảm 10-40%. Tỉ lệ bệnh thấp (khoảng 5%).
5. Bệnh tích của bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT)
Thể quá cấp tính: Viêm thanh khí quản, xuất huyết nặng, lòng khí quản có dịch nhầy và lẫn cục máu đông, đôi khi có các cục bã đậu màu vàng nhạt.
6. Chẩn đoán bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT)
Căn cứ vào triệu chứng lâm sang và bệnh tích trên ống khí quản có chất bã đậu trắng. Đặc biệt căn cứ vào dịch tễ những vùng thường xảy ra bệnh.
Sử dụng các biện pháp chẩn đoán trên phòng thí nghiệm để có những kết luận chính xác về nguyên nhân gà chết.
Với bệnh ILT ta có thể soi dưới kính hiển vi tìm virus tồn tại trong các biểu mô, dùng phương pháp PCR, phương pháp Elisa…
7. Phòng bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Sử dụng vaccin là cách tốt nhất để kiểm soát bệnh.
Chủng vaccine ILT theo lịch khuyến cáo của nhà sản xuất.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý nguyên nhân
Kích thích tăng Interferon bằng AURASHIELD L pha 2ml/lít, cho uống 6-8 giờ/ngày, sử dụng 5-6 ngày.
Khuyến cáo: Khi đàn gà phục hồi hoặc khỏe mạnh trở lại cần chủng vaccine ILT theo lịch trình
Bước 4: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn: Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ. Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
Bước 5: Kiểm soát kế phát
Dùng GIUSE OS 200 liều: 1ml/15kg TT/ngày. Hoặc PULMUSOL liều 1g/35kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH E.COLI TRÊN GÀ – ESCHERICHIA COLI INFECTION
Escherichia coli, hoặc E. coli phân bố ở gia cầm ở mọi lứa tuổi. Vi khuẩn Escherichia là "cư dân tự nhiên" trong ruột của gia cầm và hầu hết các động vật khác. Thông thường, nó được kiểm soát bởi các vi khuẩn khác trong ruột, nhưng nếu các khuẩn lạc lớn hình thành, nó có thể gây bệnh.
1. Nguyên nhân gây bệnh E.coli trên gà
Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn gram âm Escherichia coli (viết tắt E.coli) gây bệnh cho các loài gia cầm nói chung và gà nói riêng.
Trên gà, E.coli gây nhiều bệnh khác nhau như viêm đường tiêu hóa (Colibacillosis), nhiễm trùng huyết (Colisepticemia), nhiễm trùng đường hô hấp và viêm túi khí, viêm màng bụng (Peritonitis), viêm vòi trứng (Salpingitis), viêm màng hoạt dịch, nhiễm trùng túi noãn hoàng ở gà con một ngày tuổi, viêm da…
E.coli còn được biết đến là một vi khuẩn cơ hội, gây bệnh kế phát khi gia cầm bị stress hay nhiễm những bệnh khác làm cho hệ miễn dịch suy yếu. Kế phát E.coli thường làm bệnh trầm trọng hơn nhiều và gây thiệt hại kinh tế lớn trong chăn nuôi gà công nghiệp.
[caption id="attachment_17577" align="aligncenter" width="1043"] Vi khuẩn gram âm Escherichia coli gây ra bệnh E.coli[/caption]
2. Dịch tễ của bệnh E.coli trên gà
Vi khuẩn E.coli thường trú trong đường tiêu hoá. Vi khuẩn có sẵn ở ngoài môi trường. Tuy nhiên chỉ có một số Serotype gây bệnh. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn gà con và hay nhiễm kế phát ngay sau bệnh CRD. Vì vậy có nhiều thể bệnh khác nhau. Tỷ lệ bệnh và chết phụ thuộc vào từng vùng, từng trại có biện pháp phòng và vệ sinh khác nhau.
3. Phương thức truyền lây bệnh E.coli
Truyền lây qua trứng do cơ thể mẹ bị nhiễm bệnh.
Truyền lây qua đường hô hấp do gà bị bệnh CRD làm cho niêm mạc phế quản bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập qua vết thương vào cơ thể.
Truyền lây qua vỏ trứng do bị nhiễm bẩn từ phân hoặc môi trường ở chuồng trại bị nhiễm trùng.
Lây qua thức ăn và nước uống bị nhiễm trùng.
4. Triệu chứng bệnh E.coli trên gà
Do con đường lây nhiễm khác nhau, vi khuẩn E.coli gây bệnh với các thể khác nhau như sau:
Thể viêm túi khí
Kế phát các bệnh đường hô hấp như CRD, tụ huyết trùng, viêm phế quản và khí quản truyền nhiễm. Vi khuẩn E.coli có thể bị hít vào trong những mô đã bị tổn thương của đường hô hấp.
Vi khuẩn phát triển rất nhanh trong cơ thể và định hướng vào các túi khí.Túi khí bị dày lên có màu trắng như bã đậu làm cho con vật khó thở.
Vi khuẩn có thể lây lan ra các cơ quan phủ tạng như tim, gan và các túi khí vùng bụng làm tăng sinh các màng bao tim, màng bao gan và màng phúc mạc. Kết quả làm cho tuần hoàn tim bị đình trệ, nhu động ruột bị giảm, tỷ lệ chết lên đến 8-10%.
Thể bại huyết
Do vi khuẩn xâm nhập vào máu quá nhiều, trong điều kiện sức khoẻ gà kém như khi vận chuyển, tiêm phòng, thức ăn thay đổi, giai đoạn đẻ cao và kế phát sau các bệnh hô hấp.
Triệu chứng mệt mỏi, không thích đi lại.
Chết đột ngột không rõ bệnh tích. Tỷ lệ chết nhanh này chiếm tỷ lệ từ 1-2%.
Bệnh tích chỉ rõ ở những con bị bệnh kéo dài từ 3-4 ngày trở đi: Màng tim, gan và xoang phúc mạc bị viêm dính vào tim, gan và ruột màu sắc trắng đục.
Thể viêm ruột
Bệnh thường nhiễm trùng kế phát sau các bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử, ký sinh trùng hoặc trong các trường hợp bị suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A làm cho các niêm mạc ruột bị tổn thương. Khi nhiễm bệnh gà thường bị tiêu chảy nặng, phân kcó dịch nhầy màu nâu, xanh, trắng.
Thể viêm vòi trứng
Do vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua lỗ huyệt, qua nang trứng hoặc từ máu vào. Vi khuẩn gây viêm đường sinh dục. Vì vậy khi trứng đi qua sẽ bị nhiễm bệnh E.coli làm cho phôi chết trước khi nở ra, hoặc chết sau khi nở ra.
Gà mái đẻ giảm: trứng đôi khi có máu, hoặc gà chết đột ngột trong những giai đoạn đẻ cao.
Thể chết phôi
Nhiễm trùng E.coli là nguyên nhân gây hiện tượng chết phôi. Vi khuẩn có thể xâm nhập qua vỏ trứng vào phôi gây chết phôi.
Các thể khác
Gây viêm rốn: Rốn bị sưng đỏ do vi khuẩn nhiễm từ mẹ qua trứng vào phôi hoặc từ ngoài môi trường vào rốn.
Gây viêm khớp: Khớp sưng to, đỏ
5. Bệnh tích của bệnh E.coli
Gà con: Túi lòng đỏ có màu và mùi bất thường, rốn viêm, sưng. Viêm túi khí, có mủ vàng. Bệnh nặng, màng fibrin màu trắng hoặc vàng bao phủ đầy bao tim, gan, màng ruột, túi khí.
Gà đẻ: Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng, trứng trắng nhiều, vỏ mỏng dễ vỡ.
6. Chẩn đoán bệnh E.coli
Dựa trên triệu chứng lâm sang và bệnh tích sau khi khám mổ.
Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và phân lập vi khuẩn.
Cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng lâm sang giống E.coli như bệnh bạch lỵ, bệnh thương hàn, bệnh phó thương hàn.
Cần phân biệt với bệnh có bệnh tích gần giống với E.coli như bệnh CRD.
7. Phòng bệnh E.coli trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng kháng sinh
Dùng MOXCOLIS liều: 1g/10kg TT/ngày.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh E.coli trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Chống xuất huyết, cầm máu và tạo máu: Bằng SUPER K100 pha 1ml/1-2 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc gan – thận cấp: Bằng PRODUCTIVE HEPATO pha 1ml/1-2lít nước uống, dùng liên tục đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Dùng MOXCOLIS liều 1g/10kg TT/ngày. Kết hợp với LINCOVET GDH liều 1g/50kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH CCRD (BỆNH HEN KHẸC) TRÊN GÀ- COMPLICATED CHRONIC RESPIRATORY DISEASE
Bệnh hô hấp mãn tính (CCRD) ở gia cầm (Complicated Chronic Respiratory Disease) với biểu hiện đặc trưng là gà thở khò khè, sưng mặt. Đây là một bệnh rất phổ biến ở cầm trong giai đoạn chuyển mùa, thường xảy ra trên mọi lứa tuổi, nhưng gà 3-6 tuần tuổi và gà mái sắp đẻ mẫn cảm hơn các nhóm gà khác. Vì thế khi túi khí bị viêm thì rất dễ bội nhiễm bởi các vi sinh vật gây bệnh khác, trong đó có E.coli (Chủng có hại) gây bênh ghép C-CRD.
1. Nguyên nhân gây bệnh CCRD trên gà
Bệnh hô hấp mãn tính CCRD hay còn gọi là bệnh "hen" gà là một bệnh truyền nhiễm trên gia cầm. Bệnh chủ yếu do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) gây ra. Ngoài ra, chủng Mycoplasma Synoviae (MS) gây bệnh viêm khớp truyền nhiễm thỉnh thoảng cũng gây ra bệnh viêm đường hố hấp trên của gà.
Đây là nguyên nhân gây tổn thất kinh tế lớn trong chăn nuôi gà đặc biệt ở các nơi thường xuyên có các bệnh như: viêm đường hô hấp do virus, bệnh Newcastle, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh cúm gia cầm…
2. Dịch tễ của bệnh CCRD trên gà
Bệnh hen ở gà xảy ra chủ yếu ở gà 2 - 12 tuần tuổi và những con gà mái chuẩn bị đẻ, bệnh bùng phát mạnh mẽ vào vị đông xuân khi mà độ ẩm không khí tăng cao. Các loại gia cầm có khả năng mắc bệnh như vịt, ngan, ngỗng, chim, gà,...
Bệnh lây truyền dọc từ gà bố mẹ sang gà con qua trứng, đây là con đường lây bênh nguy hiểm đối với các trang trại gà giống.
Bệnh lây truyền qua dụng cụ chăn nuôi, công nhân chăm sóc, sự tiếp xúc giữa gà bệnh với gà khỏe… Đặc biệt ở môi trường ẩm, nhiều NH3, H2S, khí độc, bụi từ phân chất độn chuồng sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Bệnh nổ ra khi có sự thay đổi của thời tiết đột ngột, chế độ chăm sóc, dinh dưỡng thay đổi hoặc kế phát bệnh khác.
Bệnh thường ghép với bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm, gumboro, …
Gà mắc bệnh tỷ lệ chết thấp nhưng gà chậm lớn, giảm khối lượng, khi khỏi bệnh con vật cũng không thể phục hồi thể trạng như ban đầu. Gà đẻ mắc bệnh sản lượng trứng giảm từ 10 - 40%.
3. Phương thức truyền lây bệnh CCRD
Bệnh thường lây truyền dọc từ đàn bố mẹ truyền sang đàn con.
Bệnh cũng lây truyền ngang khi có tiếp xúc trực tiếp giữa các con bị nhiễm hoặc đã khỏi nhưng mang mầm bệnh sang đàn mẫn cảm.
Bệnh cũng lây truyền gián tiếp qua tiếp xúc: dụng cụ, túi đựng thức ăn, người, chim hoang dã, chuột,…
Bệnh thường xảy ra mạnh khi có các yếu tố stress :
Thay đổi thời tiết đột ngột
Khi vận chuyển, chuyển đàn, ghép đàn…
Mật độ nuôi quá dày
Nền chuồng ẩm ướt, bụi bẩn, nồng độ khí NH3, H2S quá cao..
Không đảm bảo độ thông thoáng của chuồng nuôi, đặc biệt là không đảm bảo tốc độ gió
4. Triệu chứng bệnh CCRD trên gà
Giai đoạn đầu mắc bệnh CCRD gà vẩy mỏ, sưng mặt, mắt nhắm, thỉnh thoảng trong đàn sẽ có tiếng “toóc” đặc trưng. Khoảng thời gian 21 giờ tối sẽ nghe thấy tiếng “toóc” nhiều nhất.
Giai đoạn tiếp theo gà bị viêm xoang mũi, viêm kết mạc nên gà khó thở, mắt nhắm nghiền, giảm ăn, giảm đẻ, giảm khối lượng.
Gà bị hen khẹc
Trong cùng đàn, gà trống sẽ biểu hiện triệu chứng nặng hơn gà mái.Đối với gà đẻ, tỷ lệ đẻ sẽ giảm, tỷ lệ ấp nở thấp do phôi bị nghẹt đường hô hấp.
Chất lượng trứng giảm: xỉn màu, vỏ xù xì, đôi khi méo mó.
5. Bệnh tích của bệnh CCRD
Các bệnh tích khi mổ khám gà mắc bệnh CCRD tập trung chủ yếu ở đường hô hấp:
Đường hô hấp trên có hiện tượng viêm tích dịch, xoang mũi tích dịch nhầy, đặc.
Thanh quản xuất huyết, khí quản, phế quản xuất huyết có bọt khí; trường hợp bệnh nặng sẽ thấy các cục casein màu vàng nhạt trong lòng ống khí quản, phế quản.
Phổi có hiện tượng viêm, khi cắt ngang phổi sẽ thấy trong phế nang có chứa dịch, túi khí mờ đục, có bọt khí.
6. Chẩn đoán bệnh CCRD
Chẩn đoán lâm sàng chỉ dựa vào các triệu chứng bệnh tích với ưu điểm đơn giản nhưng không chính xác vì có nhiều bệnh đường hô hấp khác cũng có triệu chứng, bệnh tích tương đương với bệnh CRD ở gà.
Chẩn đoán phi lâm sàng: Sử dụng phương pháp PCR xác định DNA, RNA của mầm bệnh để khẳng định sự có mặt của mầm bênh.
7. Phòng bệnh CCRD trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng kháng sinh
Dùng PULMOSOL liều 1g/35kg TT/ngày. Hoặn NASHER VLO 625 liều 25mg/kP
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh CCRD trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Xử lý bằng phác đồ tiêm
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh tiêm: Dùng NASHER QUIN liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với: SUMAZINMYCIN liều: 1ml/5kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Trợ sức trợ lực: Dùng ACTIVITON tiêm liều1 ml/5-10 kg TT
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng
Xử lý bằng phác uống
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Kháng sinh uống: Dùng GIUSE OS 200 liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với DAMESU 250 liều: 1g/15kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.Hoặc dùng LINCOVET GDH liều: 1g/50kg TT/ngày.Kết hợp với PULMUSOL liều: 1g/35kg TT/ngày. Uống liên tục 3 ngày.
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng
Giải độc cấp: PRODUCTIVE HEPATO pha 0,1-1,0 ml/ L nước.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn: Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH ORT TRÊN GÀ (ORNITHOBACTERIUM RHINOTRACHEALE) VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Bệnh ORT (Ornithobacterium rhinotracheale) hay còn được gọi với những tên khác là bệnh viêm mũi, khí quản, phổi, túi khí, bệnh viêm phổi hóa mủ. Đây là bệnh khá phổ biến ở gia cầm, đặc biệt là ở gà.
Gà trong quá trình chăn nuôi có thể mắc phải một số bệnh khác nhau, trong đó bệnh ORT xuất hiện trong vài năm trở lại đây và khiến nông dân rất lo lắng. Vậy, bệnh ORT trên gà là gì? Điều trị bệnh ORT trên gà như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất?
1. Nguyên nhân gây bệnh ORT trên gà
Bệnh ORT là một bệnh hô hấp cấp tính do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra. Vi khuẩn tác động trực tiếp lên đường hô hấp và phổi của gà gây khó thở, ngáp, ho, chảy nước mắt mũi, phổi viêm hóa mủ tạo bã đậu hình ống.
Ornithobacterium rhinotracheale là trực khuẩn G (-), không di động, không sinh bào tử, sinh sản rất nhanh (chỉ cần 26 phút tạo ra một thế hệ mới), thời gian ủ bệnh 2-5 ngày.
Vi khuẩn ORT có sức kháng mạnh ở ngoài môi trường: Bị vô hoạt trong dung dịch acid formic 0,5% trong 15 phút; ở nhiệt độ 42°C chết trong 24 giờ; ở nhiệt độ 37°C sống được 1 ngày; ở nhiệt độ 22°C sống được 6 ngày; ở nhiệt độ 4°C sống được 40 ngày và ở nhiệt độ -12°C sống được hơn 150 ngày.
2. Dịch tễ của bệnh ORT
Mọi lứa tuổi đều mắc bệnh, gà lớn mắc bệnh cao hơn, thường xảy ra trên gà đẻ, gà thịt nuôi thả vườn. Với áp lực mầm bệnh ngày càng cao, gà thịt nuôi công nghiệp ngắn ngày cũng đã xuất hiện bệnh ORT.
Đặc biệt khi gà con nhiễm các bệnh do virus như bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB), viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT), bệnh sưng phù đầu do virus (APV) thì ORT có thể xảy ra khá sớm trên gà con 2 tuần tuổi
Tỷ lệ nhiễm bệnh 50-100%, tỷ lệ chết 5-20%, nếu kế phát các bệnh kế phát khác tỷ lệ chết tăng cao hơn.
3. Phương thức lây truyền bệnh ORT
Như đã nói ở trên, bệnh ORT ở gà xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất là ở lứa tuổi gà giò và gà lớn, còn gà thịt thường mắc lúc 3 – 6 tuần, các loại gà khác thường từ 6 tuần tuổi trở lên.
Vì đây là một loại bệnh hô hấp nên còn đường lây truyền chủ yếu cũng là qua đường hô hấp. Bệnh thường lây truyền từ gà bệnh cho gà khỏe qua tiếp xúc trực tiếp như: gà bệnh hắt hơi làm chất tiết đường hô hấp chứa mầm bệnh bắn ra ngoài không khí, từ đó lây cho gà khỏe bằng đường hít thở.
Ngoài ra, bệnh ORT ở gà cũng có thể lây truyền qua gió, dụng cụ chăn nuôi, xe vận chuyển, động vật mang mầm bệnh hay con người cũng là một nhân tố trong sự lan truyền bệnh.
Từ đó, vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gà sinh sôi và phát triển ở niêm mạc đường hô hấp sau đó đến cư trú ở cơ quan đích là phổi, hai phế quản gốc và gây nên bệnh tích đặc trưng của bệnh ORT ở đó. Vậy để tìm hiểu rõ hơn triệu chứng và biểu hiện bệnh tích của bệnh ORT ở gà, ta tiếp tục theo dõi phần dưới đây nhé!
4. Triệu chứng của bệnh ORT
Gà thường mắc 3 – 6 tuần. Gà thở khó, khò khè, hắt hơi, vẩy mỏ, ngáp và rươn cổ để thở. Mũi có dịch viêm, thấy dịch viêm trên nền chuồng. Gà chết do không thở được (thiếu oxy). Tỷ lệ mắc bệnh rất cao 50-100%. Tỷ lệ chết và loại thải thấp 5-50%. Tỷ lệ đẻ giảm 10-30%.
Gà thường mắc 3 – 6 tuần. Gà thở khó, khò khè, hắt hơi, vẩy mỏ, ngáp và rươn cổ để thở. Mũi có dịch viêm, thấy dịch viêm trên nền chuồng. Gà chết do không thở được (thiếu oxy). Tỷ lệ mắc bệnh rất cao 50-100%. Tỷ lệ chết và loại thải thấp 5-50%. Tỷ lệ đẻ giảm 10-30%.
Sốt cao, mệt mỏi, xã cánh, giảm ăn
Chảy nước mũi, sưng mặt, viêm sưng mí mắt.
Ho, khó thở, ngáp liên tục
Chết nhanh
ORT gây đột tử trên gia cầm non do nhiễm trùng não
Trên gà đẻ thường xảy ra lúc gà đang đẻ, đạt đỉnh đẻ hoặc trước khi đẻ và thường ghép với coryza gây bệnh nặng hơn, gà giảm đẻ, trứng nhỏ, vỏ trứng xấu.
5. Bệnh tích của bệnh ORT
Phổi viêm hóa mủ tập trung hoặc rải rác trên bề mặt. Trong khí quản, phế quản và phế nang có dịch, mủ màu vàng. Túi khí viêm có bọt, có thể có mủ màu vàng.
6. Chẩn đoán bệnh ORT
Bệnh ORT có thể chẩn đoán bằng việc quan sát triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám. Tuy nhiên, do bệnh có triệu chứng giống với bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB – Infectious bronchitis) nên cần chẩn đoán phân biệt.
Ðể chẩn đoán chính xác phải dựa vào việc phân lập và giám định vi khuẩn trong phòng thí nghiệm.
Do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale có sức sống kém khi ra ngoài môi trường, nên khi nghi ngờ gà bị nhiễm bệnh phải gửi mẫu về phòng thí nghiệm càng sớm càng tốt. Vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale có thể phân lập bằng thạch máu và xác định bằng các phản ứng sinh hóa. Việc kiểm tra bằng phương pháp PCR (polymerase chain reaction) cũng được ứng dụng trong công tác chẩn đoán bệnh và mang lại độ chính xác cao.
7. Kiểm soát bệnh ORT
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Vắc xin Ornitin Triple được sử dụng cho việc phòng ngừa bệnh gây ra bởi vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale cho gà giống, gà đẻ và gà địa phương. Vắc xin này chứa những chủng ORT quan trọng và phổ biến nhất gây bệnh cho gà. Chủng lần đầu cho gà lúc 4-6 tuần tuổi, nhắc lại sau 3-4 tuần.
Bước 4: Dùng kháng sinh
Kháng sinh tiêm: Dùng NASHER QUIN liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với: SUMAZINMYCIN liều: 1ml/5kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh uống: Dùng GIUSE OS 200 liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với FLORICOL liều: 1ml/10kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Xử lý bệnh ORT
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh ORT
Xử lý bằng phác đồ tiêm
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh tiêm: Dùng NASHER QUIN liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với: SUMAZINMYCIN liều: 1ml/5kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Trợ sức trợ lực: Dùng ACTIVITON tiêm liều1 ml/5-10 kg TT
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng
Xử lý bằng phác uống
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Kháng sinh uống: Dùng GIUSE OS 200 liều: 1ml/10kg TT/ngày. Kết hợp với FLORICOL liều: 1ml/10kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày. Hoặc Dùng LINCOVET GDH liều: 1g/50kg TT/ngày. Kết hợp với PULMUSOL liều: 1g/35kg TT/ngày. Uống liên tục 3 ngày.
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng
Giải độc cấp: PRODUCTIVE HEPATO pha 0,1-1,0 ml/ L nước.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn: Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ-COCCIDIOSIS AVIUM
Bệnh cầu trùng là bệnh ký sinh trùng đường ruột gia cầm do ký sinh trùng đơn bào thuộc giống Eimeria gây ra.. Bệnh này xảy ra trên toàn thế giới và hàng năm ngành chăn nuôi gia cầm tiêu tốn hàng triệu đô la để kiểm soát. Hãy cùng Thú Y Toàn Cầu tìm hiểu về bệnh cầu trùng và cách phòng - xử lý bệnh nhé.
1. Nguyên nhân gây bệnh cầu trùng Coccidiosis
Nguyên nhân chính gây bệnh cầu trùng ở gà là do ký sinh trùng đơn bào thuộc giống Eimeria. Có 9 loài cầu trùng gây bệnh gà ký sinh bao gồm: E. brunetti, E. tenella, E. necatrix, E. acervulina, E. maxima, E. mitis, E. praecox, E. hagani, E. mivatis. Mỗi loài Eimeria thường kí sinh ở những đoạn khác nhau trên đường tiêu hóa của gà. Căn cứ vào nơi cư trú mà khi bệnh xảy ra chúng ta có thể kết luận được loại Eimeria nào gây nên bệnh. Trong các loài Eimeria thì Eimeria Necatrix kí sinh ở ruột non và Eimeria Tenella kí sinh ở manh tràng là hai loài nguy hiểm nhất.
[caption id="attachment_17555" align="aligncenter" width="1037"] Các chủng cầu trùng gây bệnh[/caption]
2. Dịch tễ của bệnh cầu trùng Coccidiosis
Bệnh cầu trùng thường bùng phát nhanh khi thời tiết ẩm ướt và có tính lây lan cao, đồng thời tồn tại dai dẳng, khó mà điều trị dứt điểm. Bệnh phổ biến ở giai đoạn gà 2-8 tuần tuổi. Theo một số thống kê cho thấy, tại Việt Nam tỉ lệ gà chết do bị cầu trùng chiếm 5-15% và khi bị mắc cầu trùng gà rất dễ mắc kế phát các bệnh truyền nhiễm khác như Gumboro, tụ huyết trùng … do sức đề kháng của gà lúc này rất yếu.
3. Phương thức truyền lây bệnh cầu trùng Coccidiosis
Bệnh cầu trùng ở gà chủ yếu lây truyền qua đường tiêu hóa. Gà mắc bệnh hoặc đã khỏi bệnh nhưng vẫn còn mang cầu trùng sẽ thải ra bào tử cầu trùng theo phân và vương vãi trên nền chuồng. Gà khỏe mạnh sẽ bị nhiễm cầu trùng khi ăn phải noãn nang có lẫn trong thức ăn, nước uống, phân gà, chất độn chuồng…
Các loại côn trùng và động vật gặm nhấm cũng là nguồn gốc lây lan bệnh cầu trùng trong trang trại.
Điều kiện chuồng nuôi không vệ sinh, khu nuôi nhốt chật chội, ẩm ướt, chất độn chuồng lưu cữu, bãi chăn thả ô nhiễm… cũng tạo điều kiện cho bệnh cầu trùng bùng phát hoặc tồn tại trong thời gian dài.
4. Triệu chứng của bệnh cầu trùng Coccidiosis
Thể cấp tính: Gà ủ rũ, bỏ ăn, đứng túm tụm lại với nhau, phân lẫn máu. Cầu trùng manh tràng thì rất nhiều máu tươi ra theo phân. Gà chết do mất máu.
Thể mạn tính: Gà chậm lớn. Tiêu chảy phân trắng, lỏng, phân sáp vàng, sáp nâu, sáp đen, bã trầu.
5. Bệnh tích của bệnh cầu trùng Coccidiosis
Ruột non
Ruột non của gà bị bệnh cầu trùng thường sưng to, nhất là ở đoạn tá tràng, ngoài ra thành ruột dày cộm lên có những chấm trắng. Đặc biệt ruột gà bị trương to, vách ruột dễ vỡ, trong ruột chứa chất lỏng có mùi vô cùng khó chịu.
Quan sát bề mặt niêm mạc trong ruột xuất hiện nhiều điểm trắng đỏ, manh tràng, tá tràng có màu đỏ sẫm.
Manh tràng
Manh tràng gà bị bệnh thường sưng rất to, bên trong có xuất huyết và đầy máu, nếu như gà bị mắc bệnh nặng gà sẽ bị xuất huyết manh tràng dẫn tới hoại tử từng mảng đen.
6. Chẩn đoán bệnh cầu trùng Coccidiosis
Phần lớn những ổ dịch cấp tính của bệnh thì không cần phải xác định ở phòng thí nghiệm. Tuy nhiên với những bệnh tích không đủ đặc hiệu thì kiểm tra bệnh phẩm ở phòng thí nghiệm bằng biện pháp soi kính tìm những loài Eimeria gây bệnh.
7. Phòng bệnh cầu trùng Coccidiosis
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng kháng sinh
Dùng ZICORIN liều 1g/6-10kg TT/ngày. Hoặc DACHOLIN T liều 1ml/3.5kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
AMPROLIUM: Gà thịt và gà hậu bị: với liều hàng ngày 400 g / 500 L nước, hoặc 800 g/tấn thức ăn trong 5 - 7 ngày.
Dùng SULTEPRIM ORAL: Liều 1ml/1-2 lít nước uống. Liệu trình 3-5 ngày
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh cầu trùng Coccidiosis
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Chống xuất huyết, cầm máu và tạo máu: Bằng SUPER K100 pha 1ml/1-2 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc gan – thận cấp: Bằng PRODUCTIVE HEPATO pha 1ml/1-2lít nước uống, dùng liên tục đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH VIÊM KHỚP TRÊN GÀ – MYCOPLASMA SINOVIE (MS)
Nhiễm Mycoplasma synoviae có thể thấy ở gà và gà tây có liên quan đến viêm bao hoạt dịch và/hoặc viêm túi khí. Nó xảy ra ở hầu hết các quốc gia chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là ở các đàn gà đẻ thương mại. Tỷ lệ lây nhiễm có thể rất cao. Sự lây lan thường xảy ra rất nhanh chóng và gây thiệt hại đến kinh tế.
1. Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp MS trên gà
Tuy bệnh do vi khuẩn Mycoplasma gây ra nhưng do Serotype Synoviae gây bệnh nên triệu chứng và bệnh tích có khác bệnh CRD. Bệnh chủ yếu gây viêm khớp, bại liệt, chậm lớn và giảm đẻ. Ít có triệu chứng thở khò khè như CRD. Vì vậy chúng ta dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. tỷ lệ chết từ 1-10%.
2. Dịch tễ của bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Bệnh thấy nhiều ở mùa Đông – Xuân.
Gà mắc bệnh chủ yếu ở hai giai đoạn 30-40 ngày và 50-60 ngày tuổi.
Tỷ lệ mắc bệnh cao 10-50%.
3. Phương thức truyền lây bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Truyền qua phôi từ những gà bố mẹ bị bệnh.
Truyền qua chất thải trong chuồng đã nhiễm bệnh vào cơ thể qua thức ăn, nước uống và không khí.
Qua nhiều nhân tố trung gian khác như ở bệnh CRD.
4. Triệu chứng của bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Mầm bệnh có thể tồn tại trong bầy gà mà không có thể hiện một triệu chứng nào. Khi bị nhiễm từ 5-15% mới thể hiện một số triệu chứng.
Mào nhợt nhạt, lờ đờ, phát triển chậm.
Khớp sưng. Ở khớp gối và bàn chân bên trong khớp có dịch nhầy sền sệt giống như mật ong. Nếu bệnh để lâu không được chữa trị thì chất dịch nhầy bị casein hóa màu trắng.
Một số con bị què và đi lại khó khăn.
5. Bệnh tích bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Trong giai đoạn mới nhiễm mổ thấy:
Lách sưng to, gan sưng to và có đốm trắng đục.
Thận sưng màu hơi nhạt và có chấm đốm trắng.
Đôi khi trong ống khí quản có dịch nhầy sền sệt.
Trong ổ khớp gối và bàn chân có chứa dịch viêm màu kem xám.
Trong giai đoạn cuối của bệnh mổ thấy:
Ở khớp có chất bã đậu trắng.
Túi khí vùng ngực bị viêm xuất huyết lấm tấm hoặc có màu trắng đục.
6. Chẩn đoán bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Dựa vào triệu chứng và bệnh tích trên.
Phân lập và giám định vi khuẩn.
Làm phản ứng huyết thanh học bằng phản ứng ngưng kết để phân biệt Serotype gây bệnh.
7. Phòng bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng kháng sinh
Dùng LINCOVET GDH liều 1g/50kg TT/ngày. Kết hợp với GIUSE OS 200 liều 1g/15kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh viêm khớp (MS) trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Thông khí quản: AROLIEF pha 1ml/10 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Xử lý bằng phác đồ tiêm
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh tiêm: Dùng SUMAZINMYCIN liều: 1ml/5kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Trợ sức trợ lực: Dùng ACTIVITON tiêm liều1 ml/5-10 kg TT.
Xử lý bằng phác uống
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Kháng sinh uống: Dùng LINCOVET GDH liều 1g/50kg TT/ngày. Kết hợp với ENROFLON 10% liều 1g/10kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày.
Giải độc cấp: PRODUCTIVE HEPATO pha 0,1-1,0 ml/ L nước.
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn: Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg PPRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
Biên tập: Team Globalvet

NGÀY 17/01/2023 – GIÁ SẢN PHẨM CHĂN NUÔI (TẠI TRẠI) CẢ NƯỚC
Giá sản phẩm chăn nuôi cả nước (tại trại) cập nhật ngày 17/01/2023, bao gồm: giá lợn hơi, giá gà hơi, giá vịt…
Nguồn: Channuoivietnam

NGÀY 16/4/2026: THỊ TRƯỜNG HEO THỊT CẢ NƯỚC KHÔNG CÓ NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Giá heo hơi hôm nay (16/4) trên cả nước giữ nguyên mức giá giao động từ 63.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi ghi nhận mức giá giao động từ 63.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg. Giá thu mua heo thấp nhất vùng tại tỉnh Lạng Sơn, Lai Châu và Tuyên Quang với mức giá ghi nhận được 63.000 đồng/kg. Các tỉnh ghi nhận mức giá 64.000 đồng/kg gồm: Sơn La, Phú Thọ, Điện Biên, Lào Cai, Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hải Phòng và Ninh Bình. Mức giá cao nhất vùng ghi nhận tại Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên với giá thu mua 65.000 đồng/kg.
Tại miền Trung – Tây Nguyên, thị trường không có nhiều biến động, đa số tại các tỉnh thành có mức giá thu mua đạt 64.000 đồng/kg như: Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, và Khánh Hòa. Tỉnh có mức giá thu mua thấp nhất là Hà Tĩnh khi giá chỉ đạt 63.000 đồng/kg. Với mức giá thu mua cao nhất đạt 68.000 đồng/kg tại hai tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng. Hiện tại mức giá heo ghi nhận tại miền Trung- Tây Nguyên giao động từ 63.000 đồng/kg đến 68.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, khu vực miền Nam vẫn có mức giá thu mua trung bình cao nhất cả nước, mức giá giao động từ 67.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg. Mức giá thu mua thấp nhất ở hai tỉnh An Giang và Cần Thơ chỉ đạt 67.000 đồng/kg. Trong khi đó các tỉnh như: Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh long, Tp.Hồ Chí Minh có mức giá thu mua cao nhất đạt 69.000 đồng/kg. Mức giá thu mua đạt 68.000 đồng/kg được ghi nhật tại tỉnh Cà Mau.

NGÀY 16/4/2026: GIÁ GÀ CÓ XU HƯỚNG GIẢM Ở THỊ TRƯỜNG BẮC VÀ TRUNG BỘ, THỊ TRƯỜNG MIỀN NAM KHÔNG CÓ NHIỀU BIẾN ĐỘNG
Giá gà hôm nay (16/4) cả nước đi xuống ở hai miền Bắc và Trung bộ, thị trường miền Nam mức giá vẫn giữ nguyên. Hiện tại mức giá thu mua trung bình tại miền Bắc đạt 48.000 đồng/kg, miền Trung đạt 44.500 đồng/kg, miền Nam đạt 44.700 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá gà lại chọi đồng loạt giảm tại các tỉnh: Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Hưng Yên, Ninh Bình mức giá ghi nhận tại đây đạt 48.000 đồng/kg. Giá thu mua gà Mía đạt 78.000 đồng/kg tại các tỉnh: Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình. Hiện tại mức giá thu mua gà lai chọi giao động từ 48.000 đồng/kg đến 57.000 đồng/kg; giá thu mua gà Mía đạt 78.000 đồng/kg.
Tại miền Trung – Tây Nguyên, giá gà Minh Dư giảm đồng loạt tại các tỉnh Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai khi ghi nhận mức giá đạt 44.000 đồng/kg, mức giá này cũng được ghi nhận tại tỉnh Đắk Lắk; ghi nhận mức giá 47.000 đồng/kg tại tỉnh Lâm Đồng. Gà lai chọi được thu mua với mức giá 57.000 đồng/kg tại tỉnh Thanh Hóa. Gà Minh Dư có gia thu mua giảm với mức giá thu mua đạt 50.000 đồng/kg tại hai tỉnh Nghệ An và Quảng Trị. Hiện mức giá thu mua gà lai chọi đạt 57.000 đồng/kg, gà Minh Dư giao động từ 44.000 đồng/kg-47.000 đồng/kg, gà Ri đạt 50.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, mức giá thu mua gà Minh Dư cao nhất đạt 46.000 đồng/kg tại tỉnh Đồng Nai; mức giá thu mua thấp nhất tại tỉnh Đồng Tháp đạt 44.000 đồng/kg; mức giá thu mua 45.000 đồng/kg tại tỉnh Tây Ninh và Hồ Chí Minh. Gà Bến Tre có mức giá thu mua cao nhất đạt 60.000 đồng/kg tại tỉnh An Giang; tỉnh Cà Mau có mức giá thu mua đạt 59.000 đồng/kg; thành phố Cần Thơ có mức giá thu mua đạt 57.000 đồng/kg; mức giá thu mua đạt 55.000 đồng/kg tại tỉnh Vĩnh long; mức giá thu mua thấp nhất là tại tỉnh Đồng Tháp đạt 50.000 đồng/kg. Hiện tại mức giá thu mua gà Minh Dư giao động từ 44.000 đồng/kg đến 47.000 đồng/kg. Mức giá thu mua gà Bến Tre giao động từ 50.000 đồng/kg đến 60.000 đồng/kg.

NGÀY 11/4/2026: GIÁ HEO THỊT CẢ NƯỚC XUẤT HIỆN CÁC NHỊP ĐIỀU CHỈNH NGƯỢC CHIỀU
Giá heo hơi hôm nay (11/4) tăng giảm trái chiều ở hai miền Bắc bộ và Trung bộ. Hiện tại mức giá giao động trong khoảng 63.000 đồng/kg – 69.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi hôm nay giảm một giá ở các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Ninh Bình ghi nhận mức giá về 63.000 đồng/kg, các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Hải Phòng mức giá về 64.000 đồng/kg. Các tỉnh khác vẫn giữ nguyên mức giá ổn định: Lai Châu có mức giá thấp 63.000 đồng/kg, nhỉnh hơn có Thái Nguyên, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Phú Thọ, Điện Biên với mức giá 64.000 đồng/kg, cao nhất vùng ghi nhận mức giá 65.000 đồng/kg ở thành phố Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên. Hiện tại mức giá thu mua tại miền Bắc giao động từ 63.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.
Tại miền Trung – Tây Nguyên, ngược chiều nhích nhẹ một giá tại Gia Lai đạt 63.000 đồng/kg và Đăk Lăk đạt 68.000 đồng/kg. Trong khi đó ở các tỉnh khác mức giá không có sự thay đổi: cao nhất vùng ghi nhận tại tỉnh Lâm Đồng đạt 68.000 đồng/kg, mức giá thấp nhất vùng 62.000 đồng/kg ghi nhận tại tỉnh Hà Tĩnh, trong khi đó các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Ngãi ghi nhận mức giá 63.000 đồng/kg, Huế, Khánh Hòa và Quảng Trị ghi nhận mức giá 64.000 đồng/kg. Hiện tại mức giá thu mua tại miền Trung-Tây Nguyên giao động từ 62.000 đồng/kg đến 68.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, thị trường không có nhiều biến động giá heo ghi nhận cao nhất cả nước với mức giá 69.000 đồng/kg được ghi nhận ở tỉnh: Đồng Nai và Hồ Chí Minh. Tiếp theo đó là Tây Ninh, Đồng Tháp và Vĩnh Long ghi nhận mức giá 68.000 đồng/kg. Mức giá 67.000 đồng/kg được ghi nhận tại Cà Mau. Mức giá thấp nhất vùng ghi nhận ở hai tỉnh An Giang và Cần Thơ chỉ đạt 66.000 đồng/kg. Hiện tại mức giá hơi thu mua tại miền Nam giao động từ 66.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.

Nguyên nhân gây phân ướt, tiêu chảy ở gia cầm và những vấn đề cần lưu ý
Phân ướt hoặc tiêu chảy ở gia cầm, đặc biệt là ở gà, không chỉ là hiện tượng sinh lý đơn thuần mà còn được xem như dấu hiệu cảnh báo sớm các rối loạn đường ruột. Thông qua tình trạng phân, người chăn nuôi có thể đánh giá khá chính xác mức độ khỏe mạnh của hệ tiêu hóa, cũng như những bất ổn đang xảy ra trong đàn.
Ở gia cầm thương phẩm, thời gian thức ăn di chuyển qua đường ruột rất nhanh, trung bình chỉ khoảng 4–8 giờ. Chính vì vậy, các rối loạn tiêu hóa có thể phát sinh và tiến triển rất nhanh, nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời sẽ gây hậu quả nghiêm trọng. Phân ướt kéo dài dẫn đến chất độn chuồng ẩm, từ đó phát sinh hàng loạt vấn đề như viêm da tiếp xúc, viêm gan bàn chân, tăng nồng độ amoniac trong chuồng nuôi, ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi động vật, chất lượng không khí và năng suất chăn nuôi.
Không những vậy, nền chuồng ẩm ướt còn tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển, làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thực phẩm và bùng phát dịch bệnh trong đàn.
Tiêu chảy ở gia cầm là một vấn đề đa nguyên nhân, có thể xuất phát từ các yếu tố quản lý, dinh dưỡng, độc tố nấm mốc hoặc mầm bệnh. Do đó, việc đánh giá toàn diện để xác định nguyên nhân gốc rễ là yếu tố then chốt nhằm đưa ra giải pháp khắc phục kịp thời, giúp khôi phục sức khỏe đường ruột và ổn định hiệu quả chăn nuôi.
1. Nguyên nhân từ quản lý chăn nuôi
Một trong những yếu tố phổ biến liên quan trực tiếp đến phân ướt là gia cầm uống quá nhiều nước. Khi nhiệt độ và độ ẩm trong chuồng tăng cao, gia cầm dễ bị stress nhiệt, buộc phải uống nhiều nước hơn và giảm lượng thức ăn tiêu thụ để điều hòa thân nhiệt.
Stress nhiệt không chỉ làm thay đổi hành vi ăn uống mà còn được chứng minh là làm suy giảm tính toàn vẹn của niêm mạc ruột, gây hiện tượng “ruột rò rỉ” và viêm. Khi hàng rào ruột bị tổn thương, khả năng tái hấp thu nước giảm, dẫn đến tăng lượng nước thải ra ngoài qua phân. Đồng thời, lượng chất dinh dưỡng dư thừa không được hấp thu cũng kích thích thận bài tiết nhiều nước hơn, làm trầm trọng thêm tình trạng phân ướt.
2. Nguyên nhân từ dinh dưỡng
Khẩu phần ăn và chất lượng nước uống đóng vai trò rất quan trọng đối với trạng thái phân của gia cầm. Việc hấp thu quá nhiều khoáng chất như kali, natri, magiê, clorua hoặc sunfat từ thức ăn hoặc nước uống sẽ làm gia cầm uống nhiều nước hơn nhằm duy trì cân bằng điện giải, từ đó dẫn đến phân ướt.
Ngoài ra, lỗi phối trộn thức ăn, hàm lượng muối vượt ngưỡng hoặc nước uống có khoáng cao cũng là những nguyên nhân thường bị bỏ qua. Bên cạnh đó, chất béo kém chất lượng hoặc bị ôi thiu trong khẩu phần có thể gây kích ứng đường ruột và dẫn đến tiêu chảy.
Một yếu tố dinh dưỡng quan trọng khác là các nguyên liệu chứa hàm lượng cao Non-Starch Polysaccharides (NSP) như lúa mì, lúa mạch, lúa mạch đen. Các hợp chất này có khả năng giữ nước trong lòng ruột, cản trở quá trình tái hấp thu nước, làm phân trở nên ướt và nhớt hơn. Với những khẩu phần giàu NSP, việc bổ sung enzyme phân hủy NSP là giải pháp phổ biến nhằm cải thiện khả năng tiêu hóa và hạn chế phân ướt.
3. Độc tố nấm mốc trong thức ăn
Thức ăn hoặc nguyên liệu bị nấm mốc là nguồn phát sinh mycotoxin – các chất chuyển hóa độc hại do nấm tạo ra. Mycotoxin có thể trực tiếp phá hủy cấu trúc niêm mạc ruột, làm giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, đồng thời làm tăng tính thấm của hàng rào ruột, dẫn đến hiện tượng phân ướt kéo dài.
Một số độc tố nấm mốc như ochratoxin còn gây tổn thương thận, làm tăng lượng nước tiểu bài tiết, gián tiếp góp phần làm tăng độ ẩm của chất thải và nền chuồng.
4. Nguyên nhân do mầm bệnh
Trong các bệnh truyền nhiễm, cầu trùng (Eimeria spp.) là tác nhân phổ biến nhất liên quan đến tiêu chảy ở gia cầm. Sự xâm nhập và phát triển của cầu trùng gây tổn thương biểu mô ruột, làm rò rỉ dịch và protein vào lòng ruột. Đây chính là điều kiện thuận lợi để Clostridium perfringens phát triển mạnh, sinh độc tố và gây viêm ruột hoại tử.
Ngoài ra, rối loạn vi khuẩn đường ruột (dysbacteriosis) cũng là nguyên nhân quan trọng gây phân ướt. Tình trạng này xảy ra khi hệ vi sinh vật đường ruột bị mất cân bằng do nhiều yếu tố như khẩu phần giàu NSP, cầu trùng, C. perfringens, thay đổi thức ăn đột ngột hoặc các yếu tố stress khác.
Bên cạnh đó, nhiều vi khuẩn gây bệnh như Escherichia coli, Campylobacter jejuni, xoắn khuẩn, cũng như các virus đường ruột như adenovirus, coronavirus, reovirus, rotavirus đều có thể gây tiêu chảy ở gia cầm với mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Kết luận
Tiêu chảy và phân ướt là hiện tượng phổ biến trong chăn nuôi gia cầm, nhưng lại mang giá trị cảnh báo rất lớn đối với sức khỏe đường ruột và hiệu quả sản xuất. Phân ướt kéo dài cho thấy hệ tiêu hóa đang hoạt động kém hiệu quả, làm giảm khả năng chuyển hóa thức ăn và trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của người chăn nuôi.
Việc xác định nguyên nhân gây phân ướt thường mang tính đa yếu tố và phức tạp, đòi hỏi sự đánh giá tổng thể từ quản lý, dinh dưỡng đến kiểm soát mầm bệnh. Khi phát hiện sớm và áp dụng các biện pháp can thiệp phù hợp, người chăn nuôi hoàn toàn có thể khôi phục nhanh chóng sức khỏe đường ruột, từ đó nâng cao năng suất, giảm chi phí và đảm bảo hiệu quả chăn nuôi bền vững lâu dài.

Nguyên nhân gà bị khô chân và biện pháp phòng bệnh hiệu quả
Nguyên nhân gà bị khô chân và biện pháp phòng bệnh hiệu quả
Trong quá trình chăn nuôi, hiện tượng gà bị khô chân khá phổ biến và có thể xuất hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau. Thực chất, nguyên nhân cốt lõi của bệnh khô chân là tình trạng cơ thể gà bị mất nước kéo dài, dẫn đến rối loạn chuyển hóa và suy giảm thể trạng. Tùy từng độ tuổi, các yếu tố gây bệnh sẽ có sự khác nhau.
1. Gà bị khô chân từ giai đoạn còn nhỏ
Ở gà con, bệnh khô chân thường bắt nguồn từ các yếu tố sau:
Quá trình vận chuyển gà giống từ trại về chuồng nuôi kéo dài, không đảm bảo nhiệt độ và nước uống.
Môi trường chăn nuôi kém vệ sinh, chất thải không được xử lý kịp thời, nền chuồng ẩm bẩn.
Chăm sóc, úm gà không đúng kỹ thuật, như nhiệt độ không phù hợp, thiếu nước, khẩu phần ăn không đảm bảo dinh dưỡng.
Những yếu tố này khiến gà con nhanh mất nước, sức đề kháng giảm và dễ phát sinh bệnh khô chân.
2. Gà bị khô chân khi đạt trọng lượng trên 1kg
Khi gà đã trưởng thành hoặc đạt trọng lượng trên 1kg mà xuất hiện triệu chứng khô chân, người chăn nuôi cần đặc biệt lưu ý đến:
Việc cung cấp nước uống: thiếu nước, nước bẩn hoặc hệ thống uống không phù hợp sẽ khiến gà không uống đủ lượng cần thiết.
Chế độ dinh dưỡng mất cân đối, thiếu khoáng, vitamin hoặc năng lượng, làm rối loạn trao đổi chất và gây mất nước trong cơ thể.
3. Biểu hiện của bệnh khô chân ở gà
Gà mắc bệnh khô chân thường có các biểu hiện đặc trưng như:
Chân khô, da chân nhăn nheo, cơ chân teo nhỏ do mất nước.
Thể trạng gầy gò, lông xù, gà bỏ ăn, ủ rũ, mắt lim dim hoặc nhắm nghiền.
Đối với gà con, trong giai đoạn đầu có thể vẫn đi lại nhanh nhẹn, ăn uống tốt, nhưng các dấu hiệu khô chân sẽ xuất hiện rõ rệt sau đó nếu không được can thiệp kịp thời.
4. Biện pháp phòng và xử lý bệnh khô chân ở gà
Đối với gà con:
Cách ly những con có biểu hiện khô chân để tiện theo dõi và điều trị.
Đảm bảo chuồng úm khô ráo, đủ nhiệt độ, cung cấp nước sạch và thức ăn đầy đủ dinh dưỡng.
Đối với gà trưởng thành:
Có thể sử dụng một số kháng sinh như dòng Amox/ Amox- Colis với liều 1g/1 lít nước sạch, cho gà uống liên tục 4–5 ngày để kiểm soát vi khuẩn kế phát.
Thực hiện cách ly gà bệnh, tiêu hủy gà chết đúng kỹ thuật nhằm tránh lây lan ra toàn đàn.
👉 Phòng bệnh vẫn là giải pháp quan trọng nhất: đảm bảo nước uống sạch, dinh dưỡng cân đối, chuồng trại khô thoáng và quy trình chăm sóc đúng kỹ thuật sẽ giúp hạn chế tối đa tình trạng khô chân ở gà.

Dinh dưỡng nước trong chăn nuôi gà: Bao nhiêu là đủ?
Trong chăn nuôi, nước thường bị xem nhẹ và tách biệt khỏi khái niệm “dinh dưỡng”. Tuy nhiên trên thực tế, nước chính là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng bậc nhất đối với gia cầm, không kém bất kỳ vitamin, khoáng hay protein nào. Nước không chỉ đóng vai trò là môi trường hòa tan và vận chuyển chất dinh dưỡng, mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất, điều hòa thân nhiệt, đào thải độc tố và duy trì hoạt động sống của từng tế bào trong cơ thể gà.
Chính vì vậy, muốn chăn nuôi gà hiệu quả và bền vững, người nuôi không thể bỏ qua việc cung cấp nước đúng loại, đủ lượng và đúng cách, đặc biệt ngay từ những ngày đầu nuôi.
Giống như hầu hết các loài vật khác, gà cần được cung cấp nước sạch hằng ngày và liên tục. Thế nhưng trên thực tế, nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa thật sự chú trọng đến nhu cầu nước của đàn gà, nhất là đối với gà sinh sản. Việc thiếu nước, dù chỉ trong thời gian ngắn, cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đẻ trứng, chất lượng trứng, tỷ lệ nở và sức sống của gà con sau này.
Về nhu cầu cụ thể, trung bình gà cần khoảng 50 ml nước cho mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Như vậy, một con gà nặng 2 kg sẽ cần khoảng 100 ml nước/ngày. Riêng đối với gà mái đang đẻ, nhu cầu nước tăng lên đáng kể do phải phục vụ quá trình hình thành trứng, trung bình cần thêm khoảng 100 ml nước/ngày, nâng tổng lượng nước cần thiết lên khoảng 200 ml/con/ngày.
Nhu cầu nước của gà cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi điều kiện thời tiết. Khi thời tiết nóng, gà uống nhiều nước hơn để điều hòa thân nhiệt; ngược lại, trong điều kiện lạnh, lượng nước tiêu thụ sẽ giảm xuống. Tuy nhiên, dù ở bất kỳ thời điểm nào, nguồn nước uống cho gà luôn phải đảm bảo sạch và an toàn.
Hệ thống cấp nước, đặc biệt là đường ống dẫn nước, cần được vệ sinh và khử trùng định kỳ, tối thiểu mỗi tuần một lần, bằng các chất khử trùng phù hợp nhằm hạn chế vi khuẩn, tảo và cặn bẩn tích tụ trong đường ống. Hiện nay, đa số các trang trại chăn nuôi quy mô lớn đã sử dụng hệ thống uống nước tự động bằng núm uống hoặc bát uống, vừa đảm bảo vệ sinh, vừa giảm ô nhiễm nguồn nước.
Trong khi đó, tại các mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, gà vẫn thường được cho uống nước bằng máng hoặc khay hở. Cách này tiềm ẩn nhiều rủi ro do gà có thể giẫm lên, làm bẩn nước, tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể qua đường uống.
Về bố trí máng uống, chiều cao lý tưởng của hệ thống cấp nước nên cao hơn lưng của con gà nhỏ nhất trong đàn. Gà có tập tính đào bới và nghịch nền chuồng, vì vậy nếu đặt máng quá thấp, nước rất dễ bị vấy bẩn, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe đàn gà.
Ngoài ra, khu vực xung quanh máng uống thường xuyên bị ướt, khiến chất độn chuồng nhanh bẩn và trở thành nơi cư trú của vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng. Do đó, người nuôi cần thay hoặc bổ sung chất độn chuồng thường xuyên, tránh để nền chuồng ẩm ướt kéo dài, vốn là nguyên nhân gây viêm loét bàn chân và nhiều bệnh kế phát khác ở gà.
Để cải thiện tình trạng này, có thể bổ sung các chế phẩm men vi sinh vào chất độn chuồng, giúp hấp thu độ ẩm, hạn chế mùi hôi và giảm mật độ mầm bệnh trong chuồng nuôi. Biện pháp này không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe đàn gà mà còn giảm công lao động và chi phí thay lót chuồng cho người chăn nuôi.
👉 Quản lý tốt nguồn nước chính là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà.

Những lưu ý quan trọng khi chăm sóc thủy cầm trong mùa giá rét
Những lưu ý quan trọng khi chăm sóc thủy cầm trong mùa giá rét
Mùa đông tại Việt Nam thường xuất hiện các đợt rét đậm, rét hại kéo dài, kèm theo mưa phùn và độ ẩm không khí cao. Đây là giai đoạn đặc biệt bất lợi cho chăn nuôi nói chung và đàn thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng) nói riêng. Nhiệt độ xuống thấp, gió mùa Đông Bắc liên tục khiến vật nuôi giảm sức đề kháng, chậm lớn, tiêu tốn nhiều thức ăn và dễ bùng phát dịch bệnh nếu không được chăm sóc đúng cách.
Để hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả chăn nuôi trong mùa lạnh, người nuôi cần chú trọng đồng bộ các biện pháp sau:
Quản lý chuồng trại – yếu tố then chốt phòng bệnh mùa đông
Chuồng nuôi thủy cầm cần được che chắn kín gió, tránh gió lùa và nước mưa hắt trực tiếp vào nền chuồng. Bổ sung thêm chất độn chuồng khô, sạch để giữ ấm cho đàn vật nuôi, đặc biệt trong những ngày rét sâu.
Đối với thủy cầm non, cần sử dụng bóng úm hồng ngoại hoặc thiết bị sưởi để đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi phù hợp. Hạn chế rửa chuồng trong những ngày rét, giữ nền chuồng luôn khô ráo, thông thoáng. Độ ẩm lý tưởng trong chuồng nên duy trì ở mức 60–70%; khi độ ẩm ngoài trời tăng cao (trên 90%), cần giảm mật độ nuôi và sử dụng quạt hút thông gió để hạn chế ẩm và mầm bệnh phát triển.
Chủ động phòng bệnh bằng vắc-xin và thuốc thú y
Trong điều kiện thời tiết lạnh, mưa ẩm, các tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, nấm phát triển mạnh, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm trên thủy cầm như E.coli, hen suyễn, bại huyết, viêm gan, dịch tả, cúm gia cầm (H5N1, H9N2) và hội chứng lật ngửa trên vịt.
Người chăn nuôi cần tiêm phòng đầy đủ vắc-xin theo đúng lịch thú y. Đồng thời, có thể sử dụng các loại kháng sinh phòng bệnh đường hô hấp và tiêu hóa theo hướng dẫn của cán bộ thú y. Việc bổ sung vitamin, khoáng chất, điện giải, men tiêu hóa và các chế phẩm giải độc gan sẽ giúp đàn thủy cầm tăng sức đề kháng, ăn khỏe và chuyển hóa thức ăn tốt hơn.
Theo dõi đàn và xử lý kịp thời khi có dấu hiệu bất thường
Cần kiểm tra đàn thủy cầm hằng ngày. Khi phát hiện cá thể có biểu hiện bất thường như ủ rũ, kém ăn, đi lại khó khăn, cần tách đàn nuôi riêng để theo dõi và điều trị. Trường hợp bệnh nhẹ, không có dấu hiệu lây lan, có thể sử dụng thuốc trợ sức và cải thiện điều kiện chuồng nuôi.
Nếu thủy cầm xuất hiện triệu chứng nặng hoặc lây lan nhanh như sốt cao, khó thở, chết rải rác hoặc hàng loạt, tuyệt đối không bán chạy, không tự ý xử lý mà phải báo ngay cho cán bộ thú y địa phương để can thiệp kịp thời, tránh dịch bệnh bùng phát trên diện rộng.
Chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý trong mùa lạnh
Trong thời tiết rét, thủy cầm có xu hướng tăng nhu cầu năng lượng, do đó cần cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng. Không thay đổi thức ăn đột ngột mà phải chuyển đổi từ từ để vật nuôi thích nghi.
Người nuôi nên chủ động dự trữ thức ăn, đảm bảo cung cấp đúng loại, đúng giai đoạn phát triển. Việc nuôi dưỡng tốt sẽ giúp thủy cầm tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ phát sinh dịch bệnh.
Bên cạnh đó, cần cung cấp đầy đủ nước sạch, tránh để nước quá lạnh (dưới 10°C). Với đàn thủy cầm non nuôi bán chăn thả, không nên thả ra ngoài quá sớm trong những ngày rét để hạn chế nhiễm lạnh.
Đảm bảo vệ sinh thú y và môi trường chăn nuôi
Thực hiện tiêu độc, khử trùng chuồng trại định kỳ 1 lần/tuần bằng các loại hóa chất phù hợp hoặc vôi bột, nước vôi. Đồng thời, thường xuyên xử lý phân, nước thải, chất độn chuồng bằng các biện pháp cơ học, hóa học hoặc sinh học như hầm biogas, đệm lót sinh học, chế phẩm vi sinh.
Việc giữ môi trường chăn nuôi sạch sẽ, khô thoáng không chỉ giúp giảm mầm bệnh cho đàn thủy cầm mà còn hạn chế ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe con người.

6 yếu tố then chốt cần lưu ý khi kiểm soát bệnh suyễn heo
Suyễn heo (viêm phổi địa phương) được xem là bệnh chỉ thị điều kiện môi trường và quản lý chăn nuôi. Sự biến động bất lợi của thời tiết, mật độ nuôi cao, chất lượng chuồng trại kém và chăm sóc không phù hợp đều làm suy giảm sức đề kháng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh đường hô hấp phát triển, trong đó Mycoplasma hyopneumoniae là mầm bệnh chủ đạo.
Để kiểm soát hiệu quả bệnh suyễn heo, người chăn nuôi cần đặc biệt chú ý đến 6 yếu tố quan trọng sau:
1. Mật độ đàn nuôi
Nuôi heo với mật độ quá cao gây stress kéo dài, làm suy giảm miễn dịch và tăng nguy cơ bùng phát các bệnh hô hấp. Heo chen chúc, cạnh tranh thức ăn – không gian sống sẽ dễ mắc viêm phổi truyền nhiễm, đặc biệt khi môi trường chuồng trại không đảm bảo thông thoáng.
👉 Duy trì mật độ nuôi phù hợp là nền tảng quan trọng để giảm áp lực bệnh tật trong đàn.
2. Nguy cơ đồng nhiễm mầm bệnh
Mycoplasma hyopneumoniae thường không gây bệnh đơn lẻ, mà tạo tiền đề cho các tác nhân khác xâm nhập như:
Haemophilus parasuis
Actinobacillus pleuropneumoniae
Pasteurella multocida
Sự đồng nhiễm này hình thành hội chứng hô hấp phức hợp ở lợn (PRDC), gây tổn thương nghiêm trọng đường hô hấp, làm bệnh kéo dài và khó kiểm soát hơn.
3. Dinh dưỡng và khẩu phần ăn
Khẩu phần ăn thiếu hoặc mất cân đối dinh dưỡng sẽ làm suy yếu hệ miễn dịch, giảm khả năng chống lại mầm bệnh. Heo thiếu năng lượng, protein, vitamin và khoáng chất sẽ dễ nhiễm các bệnh hô hấp như PRRS, suyễn heo và các bệnh kế phát khác.
👉 Dinh dưỡng đầy đủ và phù hợp từng giai đoạn là “lá chắn sinh học” quan trọng giúp heo chống bệnh.
4. Nồng độ amoniac và thông gió chuồng trại
Chuồng nuôi có chất lượng không khí kém, nhiều bụi, nồng độ amoniac vượt ngưỡng, thông gió không hiệu quả sẽ gây tổn thương niêm mạc và hàng rào biểu mô hô hấp của heo. Đây là điều kiện lý tưởng để vi khuẩn, virus xâm nhập và gây bệnh.
👉 Kiểm soát khí độc, tăng cường thông gió là yếu tố sống còn trong phòng bệnh hô hấp.
5. Nhiệt độ và stress nhiệt
Stress nhiệt (quá nóng hoặc quá lạnh) là vấn đề phổ biến trong chăn nuôi heo công nghiệp. Khi bị stress nhiệt, heo giảm ăn, suy giảm miễn dịch và dễ mắc các bệnh đường hô hấp, trong đó có suyễn heo.
👉 Duy trì nhiệt độ chuồng ổn định, phù hợp từng lứa tuổi giúp giảm đáng kể nguy cơ phát bệnh.
6. Sức đề kháng và chương trình vắc-xin
Heo không được tiêm phòng đầy đủ, miễn dịch kém sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh lây lan nhanh trong đàn, gây thiệt hại nặng nề và khó kiểm soát. Do đó, chủng ngừa vắc-xin đúng lịch, đúng kỹ thuật là biện pháp cốt lõi để tạo miễn dịch chủ động và bảo vệ toàn đàn.

Quản lý thân nhiệt cho heo con vào mùa đông – Yếu tố sống còn trong chăn nuôi heo công nghiệp
Heo là loài động vật đẳng nhiệt, có khả năng duy trì thân nhiệt tương đối ổn định. Tuy nhiên, trên thực tế sản xuất, đặc biệt trong mô hình chăn nuôi công nghiệp, heo – nhất là heo con – lại vô cùng nhạy cảm với sự biến động của nhiệt độ môi trường. Trong số các yếu tố gây stress trong suốt chu kỳ nuôi, stress nhiệt do lạnh (hypothermia) được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến, khó kiểm soát và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất vào mùa đông.
Theo nhiều nghiên cứu, cảm lạnh kết hợp với bệnh truyền nhiễm có thể gây tỷ lệ tử vong lên đến 13–15% ở heo con theo mẹ và heo cai sữa. Nguyên nhân chính là do heo con có lớp mỡ dưới da mỏng, lông thưa, khả năng sinh nhiệt kém, khiến cơ thể không đủ năng lực tự bảo tồn nhiệt khi môi trường lạnh.
Nhiệt độ lý tưởng cho heo con theo từng giai đoạn
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ tối ưu cho heo con sơ sinh dao động từ 30–34°C, và giảm dần còn 25–30°C ở giai đoạn cai sữa (3–4 tuần tuổi). Đặc biệt, các nghiên cứu chỉ ra rằng nhiệt độ 34,6°C cần được duy trì ít nhất trong 2 giờ đầu sau sinh, đây được xem là tiêu chuẩn kỹ thuật trong chăn nuôi heo hiện đại, giúp:
Giảm tỷ lệ chết sớm
Cải thiện tăng trưởng
Hỗ trợ hoàn thiện chức năng miễn dịch
Tăng khả năng sống sót của heo con
Nguyên nhân gây hạ thân nhiệt ở heo
Hạ thân nhiệt xảy ra khi heo không thể duy trì thân nhiệt sinh lý 38,5–39°C, thường gặp nhất ở heo con từ 0–7 ngày tuổi, nhưng cũng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả heo trưởng thành.
Một số nguyên nhân chính bao gồm:
Nhiệt độ môi trường thấp, gió lùa, độ ẩm cao
Heo con không có mỡ nâu – loại mỡ giúp sinh nhiệt nhanh ở động vật có vú
Thiếu sữa mẹ hoặc gián đoạn bú sữa, dẫn đến hạ đường huyết
Cạn kiệt glycogen dự trữ trong gan
Heo nhẹ cân, heo yếu, heo vận chuyển xa
Ở heo con từ ≥7 ngày tuổi, quá trình tân tạo đường (gluconeogenesis) bắt đầu hoạt động hiệu quả hơn, giúp duy trì glucose máu và hạn chế mất nhiệt. Tuy nhiên, ở heo sơ sinh, cơ chế này gần như chưa hoàn thiện.
Triệu chứng lâm sàng của heo bị cảm lạnh
Heo con bị hạ thân nhiệt thường có các biểu hiện đặc trưng:
Tụ tập dưới đèn sưởi, nằm chồng lên nhau hoặc áp sát bụng mẹ
Lông dựng đứng, run rẩy liên tục
Dáng đi loạng choạng, yếu chân sau, đầu cúi thấp
Trường hợp nặng: nằm úp bụng, co giật, tim đập chậm (~80 nhịp/phút), nhiệt độ trực tràng giảm xuống 35°C, đờ đẫn và hôn mê
Heo con có thể chết trong vòng 24–36 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng nếu không được can thiệp kịp thời.
Ở heo lớn, cảm lạnh ít gây chết nhưng làm:
Tăng FCR, chậm lớn
Lông thô, thể trạng kém
Giảm khả năng sinh sản ở heo nái và hậu bị
Bệnh tích thường gặp
Khi mổ khám, heo chết do cảm lạnh thường có:
Thể trạng gầy yếu, xù lông
Tứ chi xanh tái
Dạ dày rỗng
Hàm lượng glucose máu và glycogen gan rất thấp (tương tự hạ đường huyết)
Biện pháp phòng và điều trị cảm lạnh cho heo
1. Quản lý chuồng trại
Thiết kế chuồng ấm vào mùa đông – mát vào mùa hè
Hạn chế gió lùa, giữ nền chuồng khô ráo
Tăng cường đèn sưởi, tấm đệm nhiệt, sàn gỗ cho heo con
2. Hỗ trợ năng lượng
Tiêm glucose 5% (15 ml/con, mỗi 4–6 giờ) vào xoang bụng
Hoặc cho uống glucose bằng ống thông dạ dày
Bổ sung CL-Oresol qua thức ăn hoặc nước uống
3. Quản lý đàn hợp lý
Ghép bầy nếu heo nái thiếu sữa
Heo mồ côi hoặc thừa vú nên nuôi nhóm nhỏ trong lồng úm
Theo dõi sát heo sơ sinh trong 1–2 ngày đầu để hỗ trợ vào ô úm kịp thời
4. Điều chỉnh khẩu phần
Tăng lượng ăn hoặc nâng mức năng lượng khẩu phần cho heo cai sữa trong thời gian lạnh
Tránh khẩu phần quá nhiều xơ, thấp năng lượng vào mùa đông
Kết luận
Quản lý thân nhiệt cho heo con vào mùa đông không chỉ là biện pháp kỹ thuật, mà là yếu tố sống còn quyết định hiệu quả chăn nuôi. Chủ động kiểm soát nhiệt độ, dinh dưỡng và môi trường sống sẽ giúp giảm tỷ lệ chết, nâng cao tăng trưởng và tối ưu năng suất đàn heo trong điều kiện thời tiết bất lợi.

Heo thực sự “giao tiếp” qua tiếng kêu ủn ỉn – Hiểu tiếng heo để nâng cao phúc lợi và sức khỏe đàn
Tiếng kêu “ủn ỉn” quen thuộc của lợn không chỉ đơn thuần là âm thanh bản năng, mà thực chất là một hình thức giao tiếp mang nhiều thông tin sinh học quan trọng. Các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy, thông qua tiếng kêu, lợn có thể “bộc lộ” tính cách, trạng thái cảm xúc và thậm chí là tình trạng sức khỏe của mình.
Tiếng kêu phản ánh cá tính và môi trường sống của lợn
Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học về hành vi và sức khỏe động vật đến từ Đại học Lincoln (Vương quốc Anh) và Đại học Queen’s Belfast thực hiện, tiếng kêu ủn ỉn của lợn có mối liên hệ chặt chẽ với tính cách cá thể cũng như chất lượng điều kiện nuôi dưỡng.
Nghiên cứu được tiến hành trên 72 con lợn đực và cái ở giai đoạn hậu bị, chia thành hai nhóm nuôi trong các điều kiện khác nhau:
Một nhóm được nuôi trong môi trường “màu mỡ”: chuồng rộng rãi, có lót rơm, cho phép lợn thể hiện hành vi tự nhiên.
Nhóm còn lại sống trong môi trường “cằn cỗi”: chuồng nền bê tông, chỉ được lót một phần bằng thanh gỗ mỏng theo tiêu chuẩn tối thiểu.
Cách đánh giá tính cách lợn qua thí nghiệm hành vi
Để xác định tính cách của từng cá thể, các nhà nghiên cứu sử dụng hai bài kiểm tra hành vi tiêu chuẩn:
Kiểm tra cách ly xã hội: mỗi con lợn bị tách riêng trong vòng 3 phút.
Kiểm tra đối tượng mới lạ: lợn được đặt trong chuồng có một vật thể chưa từng tiếp xúc trước đó, như xô trắng lớn hoặc cọc tiêu giao thông màu cam, trong 5 phút.
Trong suốt quá trình thử nghiệm, hành vi và tần suất tiếng kêu ủn ỉn của lợn được ghi nhận chi tiết. Hai bài kiểm tra được lặp lại sau 2 tuần nhằm đánh giá mức độ ổn định trong phản ứng hành vi của từng cá thể.
Kết quả: tiếng kêu ủn ỉn nói lên điều gì?
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Lợn có tính cách chủ động (dễ khám phá, ít sợ hãi) phát ra tiếng ủn ỉn với tần suất cao hơn so với lợn có phản ứng nhạy cảm hoặc dè dặt.
Lợn đực nuôi trong môi trường chất lượng thấp phát ra ít tiếng ủn ỉn hơn so với lợn đực sống trong môi trường giàu kích thích. Hiện tượng này không rõ rệt ở lợn cái, cho thấy lợn đực có thể nhạy cảm hơn với điều kiện môi trường.
Những phát hiện này củng cố thêm bằng chứng rằng tín hiệu âm thanh ở lợn phản ánh cá tính và trạng thái sinh lý, chứ không phải là âm thanh ngẫu nhiên.
Ý nghĩa trong chăn nuôi và phúc lợi động vật
Theo Tiến sĩ Lisa Collins, chuyên gia về sức khỏe, hành vi và dịch tễ học động vật tại Đại học Lincoln:
“Lợn là loài động vật có tính xã hội cao. Chúng sử dụng âm thanh để duy trì liên lạc trong đàn, giao tiếp giữa mẹ và con, khi tìm kiếm thức ăn hoặc khi rơi vào trạng thái căng thẳng.”
Bà cho biết thêm, âm thanh do lợn tạo ra có thể truyền tải nhiều thông tin như:
Trạng thái cảm xúc
Mức độ stress
Động lực hành vi
Tình trạng sinh lý
Ví dụ, tiếng éc éc thường xuất hiện khi lợn sợ hãi hoặc đau đớn, có thể đóng vai trò như tín hiệu cảnh báo. Trong khi đó, tiếng ủn ỉn xuất hiện trong hầu hết các tình huống thường ngày, đặc biệt phổ biến khi lợn tìm kiếm thức ăn hoặc duy trì liên lạc với các cá thể khác trong đàn.
Kết luận: Hiểu tiếng lợn để nuôi lợn tốt hơn
Nghiên cứu này cho thấy, khi sử dụng tiếng kêu làm chỉ báo đánh giá sức khỏe và phúc lợi, người chăn nuôi và nhà nghiên cứu cần xem xét yếu tố tính cách cá thể và điều kiện môi trường nuôi dưỡng.
Việc “lắng nghe” đàn lợn không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý phúc lợi, phát hiện stress sớm và tối ưu hiệu quả chăn nuôi trong tương lai.
Ngày 27/1/2026: Giá heo thịt tăng mạnh tại khu vực miền Trung, một vài tỉnh tại miền Bắc và miền Nam vẫn đang trên đà tăng giá
Giá heo hơi hôm nay (27/ 1) tiếp tục đà tăng mạnh ở thị trường miền Trung, . Hiện tại mức giá giao dịch trong khoảng 75.000 đồng/kg - 81.000 đồng/ kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi hôm nay vẫn ghi nhận mức cao nhất đạt 81.000 đồng tại các tỉnh Phú Thọ, Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Tuyên Quang, Bắc Ninh và Hải Phòng. Đồng loạt ghi nhận mức giá heo hơi đạt 80.000 đồng/kg tại Điện Biên, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Hà Nội .Mức giá 79.000 đồng/ kg được thu mua tại các tỉnh: Lào Cai. Thấp nhất trong khu vực khi đạt mức 78.000 đồng/kg được ghi nhận tại các tỉnh: Lai Châu. Hiện mức giá heo hơi thu mua hiện giao động tại miền bắc từ 78.000 đồng/kg đến 81.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi tại Thanh Hóa cao nhất khu vực khi đạt 80.000 đồng/ kg và ngay sau đó là Nghệ An ghi nhận mức giá 79.000 đồng/kg. Tiếp sau đó ghi nhận mức giá 78.000 đồng/kg tại Hà Tĩnh. Ghi nhận đồng mức giá 77.000 đồng/ kg tại Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Đăk Lăk, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Thấp nhất tại khu vực này ghi nhận tại các tỉnh: Đà Nẵng và Gia Lai khi đạt 76.000 đồng/ kg. Hiện tại mức trung bình toàn miền đạt 76.000 đồng/kg đến 80.000 đồng/ kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi cao nhất tại Đồng Nai khi đạt mức 78.000 đồng/ kg. Tiếp theo sau đó là khu vực TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh khi ghi nhận giá heo đạt 77.000 đồng/kg. Tại Vĩnh Long, Đồng Tháp đều ghi nhận mức giá chung đạt 76.000 đồng/kg. Thấp nhất trong khu vực khi đạt 75.000 đồng/kg tại các tỉnh: An Gian, Cà Mau và TP Cần Thơ. Hiện mức giá heo hơi thu mua hiện giao động tại miền Nam từ 75.000 đồng/kg đến 78.000 đồng/kg.

Cách chăm sóc heo đực con sau khi triệt sản
Cách chăm sóc lợn đực con sau khi triệt sản đúng kỹ thuật, nhanh hồi phục, tăng trọng tốt
Thiến lợn đực con là một kỹ thuật phổ biến trong chăn nuôi heo hiện đại, nhằm hạn chế mùi hôi thịt, giúp heo ăn khỏe, tăng trọng nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao. Về bản chất, đây là một tiểu phẫu đơn giản, ít xâm lấn, nhưng vẫn tạo ra vết thương hở, tiềm ẩn nguy cơ nhiễm trùng nếu không được chăm sóc đúng cách. Thực tế cho thấy, phần lớn các trường hợp heo chậm lớn, viêm nhiễm hoặc chết sau thiến đều xuất phát từ quy trình chăm sóc hậu phẫu chưa đạt yêu cầu.
Vì vậy, việc áp dụng đúng kỹ thuật chăm sóc lợn đực con sau khi triệt sản không chỉ giúp heo nhanh hồi phục, giảm stress mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định tăng trưởng và nâng cao năng suất chăn nuôi.
Ảnh hưởng của thiến đến sức khỏe lợn đực con
Sau khi thiến, heo con thường chịu một mức độ stress nhất định do đau và thay đổi sinh lý. Nếu bị kích động mạnh, vận động nhiều hoặc va chạm với các con khác, vết mổ có thể bị bung, chảy máu hoặc nhiễm trùng. Trong những ngày đầu sau thiến, hệ miễn dịch của heo cũng suy giảm tạm thời, khiến chúng dễ mắc các bệnh kế phát nếu môi trường nuôi không đảm bảo vệ sinh.
Do đó, giai đoạn chăm sóc sau thiến cần được xem là thời điểm nhạy cảm, đòi hỏi người chăn nuôi theo dõi sát sao và can thiệp kịp thời khi có dấu hiệu bất thường.
Theo dõi và xử lý vết mổ sau khi thiến
Việc kiểm tra vết mổ cần được thực hiện hằng ngày, đặc biệt trong 3–5 ngày đầu sau thiến. Vết thương bình thường sẽ khô dần, không sưng, không rỉ dịch và heo vẫn ăn uống bình thường. Người nuôi nên bôi thuốc sát trùng định kỳ để hạn chế vi khuẩn xâm nhập.
Trong trường hợp vết mổ lâu lành, sưng đỏ, chảy máu hoặc rỉ dịch, cần áp dụng các biện pháp hỗ trợ như sử dụng kháng sinh, thuốc kháng viêm theo chỉ định thú y. Nếu vết thương có dấu hiệu lở loét, mùi hôi, heo bỏ ăn hoặc sốt, cần can thiệp thú y ngay lập tức để tránh nhiễm trùng huyết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trọng và tỷ lệ sống.
Việc chủ quan hoặc bỏ qua các dấu hiệu ban đầu có thể khiến tình trạng bệnh tiến triển nhanh, làm tăng chi phí điều trị và giảm hiệu quả chăn nuôi.
Vệ sinh chuồng trại và quản lý môi trường nuôi
Sau khi triệt sản, lợn đực con nên được nuôi nhốt riêng để hạn chế va chạm, cắn mổ hoặc dẫm đạp lên vết thương. Chuồng nuôi cần đảm bảo khô ráo, sạch sẽ, thông thoáng, tránh ẩm ướt vì đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.
Công tác vệ sinh chuồng trại cần được thực hiện nghiêm ngặt: dọn phân thường xuyên, sát trùng định kỳ và giữ nền chuồng khô. Môi trường nuôi tốt không chỉ giúp vết mổ nhanh lành mà còn hỗ trợ heo giảm stress, ăn khỏe và phục hồi nhanh hơn.
Chế độ dinh dưỡng giúp heo nhanh hồi phục
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình lành thương và phục hồi sau thiến. Khẩu phần ăn của heo cần được cung cấp đầy đủ năng lượng, protein, vitamin và khoáng chất, đặc biệt là các vi chất giúp tăng cường miễn dịch và tái tạo mô.
Việc bổ sung rau xanh, vitamin tổng hợp và khoáng vi lượng sẽ giúp heo nhanh lấy lại thể trạng, tăng khả năng đề kháng và sớm quay lại nhịp tăng trọng bình thường. Khi heo hồi phục tốt, khả năng chuyển hóa thức ăn được cải thiện, góp phần rút ngắn thời gian nuôi và tăng hiệu quả kinh tế.
Lưu ý kỹ thuật để hạn chế rủi ro sau thiến
Mặc dù thiến lợn đực con mang lại nhiều lợi ích, nhưng nếu thao tác không đúng kỹ thuật hoặc điều kiện vô trùng không đảm bảo, vết thương rất dễ bị nhiễm trùng. Người chăn nuôi cần đặc biệt chú ý đến khâu vệ sinh dụng cụ, tay người thao tác và môi trường xung quanh trong suốt quá trình thiến.
Sau thiến, cần hạn chế tối đa các yếu tố gây stress như thay đổi chuồng đột ngột, nhiệt độ không ổn định hoặc vận chuyển heo. Quản lý tốt giai đoạn này sẽ giúp giảm tỷ lệ hao hụt, giảm chi phí thuốc thú y và nâng cao chất lượng thịt thương phẩm.
Kết luận
Chăm sóc lợn đực con sau khi triệt sản là một khâu kỹ thuật quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ trong chăn nuôi. Việc theo dõi vết mổ sát sao, đảm bảo vệ sinh chuồng trại, cung cấp dinh dưỡng hợp lý và xử lý kịp thời các dấu hiệu bất thường sẽ giúp heo nhanh hồi phục, tăng trọng ổn định và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Áp dụng đúng quy trình chăm sóc sau thiến không chỉ bảo vệ sức khỏe đàn heo mà còn góp phần nâng cao năng suất, chất lượng thịt và tính bền vững của mô hình chăn nuôi.

Ngày 26/1/2026: Giá heo thịt tiếp tục lập đỉnh mới
Giá heo hơi hôm nay (26/ 1) tiếp tục đà tăng trên thị trường toàn quốc chưa có dấu hiệu chững lại. Hiện tại mức giá giao dịch trong khoảng 75.000 đồng/kg - 81.000 đồng/ kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi hôm nay vẫn ghi nhận mức cao nhất đạt 81.000 đồng tại các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Ninh và Hải Phòng. Đồng loạt ghi nhận mức giá heo hơi đạt 80.000 đồng/kg tại Phú Thọ, Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Nội , Hưng Yên và Ninh Bình.Mức giá 79.000 đồng/ kg được thu mua tại các tỉnh: Điện Biên và Lạng Sơn. Thấp nhất trong khu vực khi đạt mức 78.000 đồng/kg được ghi nhận tại các tỉnh: Lai Châu. Hiện mức giá heo hơi thu mua hiện giao động tại miền bắc từ 78.000 đồng/kg đến 81.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi tại Thanh Hóa và Nghệ An đạt mức cao nhất 79.000 đồng/kg. Tiếp sau đó ghi nhận mức giá 77.000 đồng/kg tại Hà Tĩnh, Đắk Lăk và Lâm Đồng. Ghi nhận mức giá 76.000 đồng/ kg tại Quảng Trị, Quảng Ngãi và Khánh Hòa. Thấp nhất tại khu vực này ghi nhận tại các tỉnh: Đà Nẵng và Gia Lai khi đạt 75.000 đồng/ kg. Hiện tại mức trung bình toàn miền đạt 75.000 đồng/kg đến 79.000 đồng/ kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi cao nhất tại Đồng Nai khi đạt mức 78.000 đồng/ kg. Tiếp theo sau đó là khu vực TP Hồ Chí Minh khi ghi nhận giá heo đạt 77.000 đồng/kg. Tại Tây Ninh, Đồng Tháp đều ghi nhận mức giá chung đạt 76.000 đồng/kg. Thấp nhất trong khu vực khi đạt 75.000 đồng/kg tại các tỉnh: An Giang, Vĩnh Long, Cà Mau và TP Cần Thơ. Hiện mức giá heo hơi thu mua hiện giao động tại miền Nam từ 75.000 đồng/kg đến 78.000 đồng/kg.

GIẢM TỶ LỆ CHẾT CỦA HEO CON SAU CAI SỮA – CHÌA KHÓA NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI HEO HIỆN ĐẠI
GIẢM TỶ LỆ CHẾT SAU CAI SỮA – CHÌA KHÓA NÂNG CAO NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ CHĂN NUÔI HEO HIỆN ĐẠI
Giai đoạn sau cai sữa được xem là “điểm nghẽn sinh tử” trong toàn bộ chu kỳ sản xuất heo. Thực tế tại các quốc gia có nền chăn nuôi phát triển cho thấy, tỷ lệ chết sau cai sữa được kiểm soát ổn định dưới 10%, trong khi tại nhiều quốc gia và trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ, con số này có thể dao động từ 15–20%, thậm chí cao hơn. Điều đáng chú ý là, chỉ cần giảm tỷ lệ chết sau cai sữa xuống dưới 10%, mỗi nái có thể mang lại thêm 2 heo thịt, góp phần cải thiện rõ rệt hiệu quả kinh tế toàn trại.
Nguyên nhân chính của sự chênh lệch này không nằm ở yếu tố di truyền đơn lẻ, mà bắt nguồn từ trình độ trang thiết bị, phương pháp quản lý, môi trường nuôi dưỡng và chiến lược phòng bệnh tổng thể. Những trại có cơ sở vật chất lạc hậu, hệ thống thông thoáng kém, kiểm soát ẩm độ và nhiệt độ không ổn định sẽ khiến heo con dễ mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa, làm tăng tỷ lệ chết và suy giảm tăng trọng. Ngoài ra, mật độ nuôi quá cao còn tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại dai dẳng, chuyển sang dạng mãn tính, gây tổn thất lâu dài về năng suất.
CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NUÔI VÀ TRANG THIẾT BỊ CHUỒNG TRẠI
Môi trường chuồng trại đóng vai trò nền tảng trong việc giảm tỷ lệ chết sau cai sữa. Những trại có năng suất cao thường được đầu tư chuồng cách nhiệt tốt, hệ thống thông gió chủ động, kiểm soát tiểu khí hậu tự động, giúp duy trì nhiệt độ – độ ẩm – tốc độ gió phù hợp với sinh lý heo con. Một môi trường nuôi ổn định giúp heo giảm stress, ăn tốt hơn và tăng khả năng miễn dịch tự nhiên.
Việc cải tiến trang thiết bị không chỉ nhằm giảm bệnh mà còn giúp chuẩn hóa quy trình quản lý, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân, từ đó nâng cao tính ổn định của sản xuất.
NGĂN CHẶN DỊCH BỆNH LÂY LAN BẰNG NGUYÊN TẮC “CÙNG VÀO – CÙNG RA”
Ngăn chặn dịch bệnh lây lan là yếu tố then chốt để kiểm soát tỷ lệ chết. Áp dụng triệt để nguyên tắc cùng vào – cùng ra (All in – All out) theo từng giai đoạn nuôi giúp cắt đứt vòng đời mầm bệnh. Sau mỗi lứa heo xuất chuồng, khu vực nuôi cần được xịt rửa, sát trùng kỹ lưỡng và để trống chuồng đủ thời gian trước khi tiếp nhận đàn mới.
Việc tổ chức đẻ tập trung, cai sữa đồng loạt, nuôi tách biệt theo nhóm tuổi sẽ giúp việc kiểm soát dịch bệnh trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn, đồng thời giảm đáng kể áp lực điều trị bằng thuốc.
SẢN XUẤT HEO CON KHỎE MẠNH NGAY TỪ TRẠI ĐẺ
Heo con khỏe mạnh là nền tảng để giảm tỷ lệ chết sau cai sữa. Điều này phụ thuộc trực tiếp vào tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của nái. Nái cần được quản lý tốt về tiêm phòng, tẩy ký sinh trùng và cung cấp khẩu phần dinh dưỡng đầy đủ, cân đối.
Ngay sau khi sinh, heo con phải được lau khô, giữ ấm, cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Sữa đầu là nguồn kháng thể tự nhiên quan trọng nhất giúp heo con chống lại bệnh tật trong giai đoạn đầu đời. Với những ổ đẻ đông con, cần ghép bầy hợp lý, sử dụng sản phẩm thay thế sữa mẹ để đảm bảo tất cả heo con đều được nuôi dưỡng đầy đủ.
Bên cạnh đó, bổ sung cám tập ăn sớm, dễ tiêu hóa, mùi vị hấp dẫn sẽ giúp heo con làm quen với thức ăn rắn, giảm sốc cai sữa và tăng khả năng tăng trưởng sau này.
CHƯƠNG TRÌNH VẮC-XIN VÀ AN TOÀN SINH HỌC
Tiêm phòng vắc-xin là biện pháp chủ động và hiệu quả nhất để nâng cao sức đề kháng cho đàn heo. Các bệnh tiêu chảy nguy hiểm như PED, TGE, hay các bệnh hô hấp và toàn thân như PRRS, viêm phổi do Pasteurella, viêm teo mũi truyền nhiễm, viêm màng phổi, bệnh hồi tràng cần được đưa vào chương trình tiêm phòng phù hợp.
Việc xây dựng chương trình vắc-xin cần dựa trên kết quả xét nghiệm huyết thanh, kiểm tra sau giết mổ và tư vấn chuyên môn của bác sĩ thú y, tránh tiêm phòng tràn lan gây lãng phí và stress cho heo.
TỔ CHỨC CHUỒNG CÁCH LY HEO BỆNH
Heo bệnh nếu nuôi chung với heo khỏe sẽ ăn kém, hồi phục chậm và trở thành nguồn phát tán mầm bệnh nguy hiểm. Vì vậy, chuồng cách ly heo bệnh là hạng mục bắt buộc trong hệ thống trại hiện đại. Heo bệnh cần được phát hiện sớm, cách ly ngay, đảm bảo ăn uống đầy đủ, giữ ấm và điều trị đúng phác đồ.
Việc sử dụng thuốc phải tuân thủ hướng dẫn, ghi chép đầy đủ tên thuốc, liều lượng, thời gian điều trị và thời gian ngưng thuốc, không chỉ giúp giảm tỷ lệ chết mà còn hạn chế tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi.
QUẢN LÝ ĐỒNG BỘ TỪ TRẠI ĐẺ – TRẠI CAI SỮA – TRẠI THỊT
Kinh nghiệm thực tiễn và các nghiên cứu của chuyên gia như Tiến sĩ F. Madec (Pháp) cho thấy, việc quản lý đồng bộ toàn chuỗi là yếu tố quyết định thành công. Từ trại đẻ, trại cai sữa đến trại thịt đều phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc cùng vào – cùng ra, kiểm soát mật độ nuôi, duy trì tiểu khí hậu thích hợp, hạn chế stress khi chuyển đàn.
Bên cạnh đó, công tác ghi chép, thu thập và phân tích dữ liệu năng suất giúp trại xác định đúng vấn đề, đặt mục tiêu rõ ràng và huy động toàn bộ nhân sự cùng tham gia cải tiến.

6 GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG GIÚP HEO CON ĂN KHỎE – LỚN NHANH SAU CAI SỮA
Những giải pháp cải thiện lượng ăn vào của heo con
Trong chăn nuôi heo con, đặc biệt là giai đoạn sau cai sữa, việc xây dựng một khẩu phần cân đối dinh dưỡng, ngon miệng, dễ tiêu hóa và chi phí hợp lý là điều kiện tiên quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có khẩu phần tốt là chưa đủ. Đối với heo con cai sữa sớm, nếu thức ăn đơn thuần được đặt trong máng và để heo tự ăn, lượng ăn vào thường không đạt yêu cầu sinh lý, kéo theo hàng loạt vấn đề về tiêu hóa, tăng trưởng và miễn dịch.
Chính vì vậy, quản lý phương thức cho ăn được xem là “tuyến phòng thủ đầu tiên” trong chiến lược nâng cao lượng ăn vào, đặc biệt khi heo con chưa thích nghi hoàn toàn với thức ăn khô. Dưới đây là những phương pháp cho ăn phổ biến và hiệu quả đã được nghiên cứu cũng như kiểm chứng trong thực tiễn chăn nuôi.
Cho ăn dặm trước cai sữa
Cho ăn dặm là chủ đề đã được tranh luận trong hơn ba thập kỷ. Một luồng quan điểm cho rằng ăn dặm giúp giảm áp lực tiết sữa của heo nái, cải thiện thể trạng nái và năng suất sinh sản. Luồng quan điểm khác nhấn mạnh lợi ích đối với heo con như tăng trọng lúc cai sữa, kích thích phát triển hệ enzyme tiêu hóa, từ đó giảm chi phí khẩu phần giai đoạn tập ăn.
Tuy nhiên, các ý kiến phản đối cho rằng ăn dặm có thể làm tăng nguy cơ mẫn cảm miễn dịch tại ruột, đặc biệt khi heo con tiếp xúc sớm với các kháng nguyên như protein đậu nành. Nghiên cứu dài hạn tại Đại học Bristol cho thấy, việc cho heo con tiếp xúc sớm với liều nhỏ chất gây dị ứng trước cai sữa có thể dẫn đến phản ứng mẫn cảm nghiêm trọng sau cai sữa khi lượng protein trong khẩu phần tăng cao.
Giải pháp được nhiều chuyên gia đồng thuận hiện nay là kiểm soát lượng ăn dặm hợp lý, nhằm giúp hệ tiêu hóa làm quen dần với thức ăn khô trước cai sữa. Lượng thức ăn mục tiêu khoảng 500 g/con trước cai sữa được xem là đủ để hình thành dung nạp miễn dịch, hạn chế các phản ứng bất lợi sau cai.
Để đạt được mục tiêu này, cần áp dụng quy trình quản lý chặt chẽ:
– Cung cấp thức ăn tươi, ngon, dễ tiêu hóa ít nhất 3 lần/ngày
– Bắt đầu cho ăn từ 7–10 ngày tuổi
– Có thể sử dụng chất kích thích thèm ăn khi cần thiết
Trong thực tế, thức ăn tập ăn giai đoạn đầu sau cai sữa thường được dùng làm thức ăn dặm.
Hầu hết các nghiên cứu cho thấy không có lợi ích rõ rệt khi cho heo con dưới 3 tuần tuổi ăn dặm, trong khi hiệu quả cải thiện lượng ăn vào và tăng trưởng được ghi nhận rõ ở heo con trên 21 ngày tuổi.
Cho ăn dạng lỏng
Phương pháp cho heo con sau cai sữa ăn thức ăn dạng lỏng đã được nghiên cứu và áp dụng cả trong điều kiện thực nghiệm lẫn sản xuất thương mại. Trong quá trình triển khai, phương pháp này ghi nhận cả những kết quả tích cực lẫn hạn chế, và từng được đánh giá là khó ứng dụng rộng rãi do yêu cầu cao trong việc kiểm soát đồng thời các yếu tố về dinh dưỡng, vi sinh vật, kỹ thuật thiết bị và công tác quản lý.
Tuy nhiên, trong khoảng mười năm trở lại đây, những cải tiến đáng kể về công nghệ đã làm thay đổi cách nhìn đối với hệ thống cho ăn dạng lỏng. Khi được vận hành đúng quy trình, phương pháp này có thể mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, giúp tăng lượng ăn vào, cải thiện tốc độ tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn so với hệ thống cho ăn khô. Nguyên nhân chủ yếu là do thức ăn lỏng góp phần bảo vệ và phục hồi sức khỏe đường ruột. Cai sữa đột ngột thường làm giảm IgA và các yếu tố tăng trưởng, dẫn đến thoái hóa nhung mao ruột và cần nhiều thời gian để hồi phục; trong khi đó, cho ăn thức ăn lỏng có thể hạn chế đáng kể hiện tượng này.
Mặc dù vậy, cho ăn dạng lỏng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Hiệu quả chăn nuôi có sự biến động lớn giữa các trại, phụ thuộc vào thiết bị sử dụng, nguyên liệu thức ăn và phương án quản lý. Trong một số trường hợp, lượng ăn vào quá cao có thể gây tiêu chảy dinh dưỡng. Bên cạnh đó, việc kiểm soát hệ vi sinh trong thức ăn lỏng là thách thức không nhỏ. Với hàm lượng chất khô chỉ khoảng 20–25%, thức ăn lỏng rất dễ lên men và làm giảm pH. Quá trình này sẽ có lợi nếu chủ yếu tạo ra axit lactic giúp hỗ trợ sức khỏe đường ruột; ngược lại, lên men không kiểm soát hoặc không lên men thích hợp có thể thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn gram âm và làm tăng nguy cơ tiêu chảy cấp.
Gần đây, các tiến bộ trong kỹ thuật cho ăn thức ăn lỏng lên men có kiểm soát đang mở ra nhiều triển vọng mới. Quá trình lên men trong khoảng 8 giờ ở nhiệt độ xấp xỉ 21°C giúp nhanh chóng hạ pH và tăng khả năng sản sinh axit lactic, từ đó ổn định hệ vi sinh đường ruột. Việc kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu trước khi lên men cũng như điều kiện lên men hiện được xem là hướng phát triển hiện đại và hiệu quả nhất của phương pháp này.
Cho ăn trên đệm (hoặc sàn)
Cho ăn trên đệm hoặc trên sàn là một biện pháp kích thích ăn rất hiệu quả đối với heo con cai sữa sớm khi chuyển sang khẩu phần khô, đặc biệt trong trường hợp heo con ít hoặc chưa được tập ăn dặm trước đó. Nhiều nghiên cứu cũng như thực tế sản xuất cho thấy, trong những ngày đầu sau cai sữa, heo con có thể tăng gấp đôi lượng ăn vào và tốc độ tăng trọng nếu được áp dụng phương pháp cho ăn trên đệm đúng kỹ thuật.
Tuy nhiên, hiệu quả của biện pháp này phụ thuộc rất lớn vào công tác quản lý. Khẩu phần sử dụng phải có chất lượng cao, dễ tiêu hóa, bởi đây gần như là nguồn thức ăn khô đầu tiên mà đa số heo con tiếp xúc. Thức ăn tập ăn phù hợp nhất là cám dạng bột, có khả năng bám vào mõm heo, kích thích hành vi liếm và làm quen với thức ăn. Thức ăn dạng viên hoặc hỗn hợp viên – bột cũng cho kết quả tốt, nhưng cần lưu ý nguy cơ hao hụt do heo có xu hướng đẩy hoặc cuộn viên thức ăn vào tấm đệm.
Tấm đệm dùng cho ăn cần có kích thước đủ lớn, mép cao tối thiểu 1 cm và bề mặt có rãnh nhằm hạn chế lãng phí. Đệm nên được đặt gần máng ăn nhưng tránh xa góc chuồng, nguồn nước và thiết bị sưởi để không gây ẩm, bẩn hoặc tắc nghẽn. Trong ngày đầu sau cai sữa, chỉ nên rải một lượng thức ăn nhỏ lên đệm và bổ sung thêm sau mỗi 4–6 giờ, tương ứng với thời điểm heo bắt đầu tiếp nhận thức ăn khô.
Thức ăn phải luôn sạch, tươi và được cung cấp cho heo ăn tự do. Sang ngày thứ hai sau cai sữa, nên sử dụng hỗn hợp thức ăn viên và bột để khuyến khích heo làm quen dần với thức ăn viên, giúp quá trình chuyển đổi khẩu phần diễn ra thuận lợi hơn. Thông thường, việc cho ăn trên đệm nên kết thúc sau 3–4 ngày, trừ những trường hợp heo gầy yếu hoặc mắc bệnh. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, nên cho heo con ăn trên đệm ít nhất ba lần mỗi ngày, với tổng lượng khoảng 100–150 g/con/ngày, nhằm kích thích heo nhanh chóng chuyển sang ăn tại máng.
Điều chỉnh máng ăn
Việc điều chỉnh máng ăn đúng kỹ thuật tuy tốn nhiều thời gian và công sức, nhưng lại đóng vai trò then chốt trong việc hạn chế lãng phí thức ăn, đặc biệt khi chi phí khẩu phần trong giai đoạn heo con ở mức cao. Dù chưa có số liệu nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ hao hụt thức ăn, thực tế sản xuất cho thấy lãng phí thức ăn sẽ làm tăng đáng kể giá thành chăn nuôi. Thông thường, tỷ lệ hao hụt dưới 5% cho thấy máng ăn được điều chỉnh phù hợp, trong khi mức trên 15% phản ánh thiết kế máng hoặc công tác quản lý chưa đạt yêu cầu.
Theo kinh nghiệm thực tiễn, bước đầu tiên là đóng hoàn toàn cửa điều chỉnh của máng, sau đó đổ thức ăn viên vào và mở dần cửa cho đến khi thức ăn xuống máng ở mức hợp lý, đồng thời lắc nhẹ máng để kiểm tra độ lưu thông. Trong tuần đầu sau cai sữa, nên cho thức ăn chiếm khoảng 2/3 thể tích máng nhằm thu hút heo tiếp cận và ăn nhiều hơn. Ở các tuần tiếp theo, lượng thức ăn trong máng nên giảm xuống dưới 1/3 để hạn chế hao hụt. Việc điều chỉnh cần được thực hiện lại mỗi khi chuyển đổi dạng thức ăn, từ viên sang cám bột hoặc ngược lại.
Khẩu phần cám bột có chứa nhiều nguyên liệu nguồn gốc sữa thường bám máng tốt hơn so với khẩu phần đơn giản dựa trên ngũ cốc và protein thực vật. Tuy nhiên, khi kích thước hạt cám tăng, khả năng chảy của thức ăn được cải thiện nhưng có thể làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn và tăng lượng chất dinh dưỡng thải ra theo phân.
Trong quá trình quản lý, cần thường xuyên quan sát hành vi ăn của heo và lượng thức ăn rơi vãi quanh máng. Việc lắp các thanh mỏng hoặc khay hứng bên dưới máng là cách hiệu quả để đánh giá mức độ lãng phí và xác định nhu cầu điều chỉnh lại cửa máng. Ngoài ra, thức ăn dễ bị ẩm do độ ẩm môi trường và nước bọt của heo, dẫn đến bám dính ở cửa máng và làm giảm lưu lượng chảy. Hiện tượng này thường gia tăng khi nhiệt độ và độ ẩm không khí cao, vì vậy cần kiểm tra và vệ sinh máng ăn thường xuyên để đảm bảo hiệu quả cho ăn.
Cho ăn cháo
Việc cho heo con ăn cháo giúp tăng nhanh lượng chất khô tiêu thụ trong giai đoạn trước và ngay sau cai sữa. Thức ăn ở dạng lỏng hoặc bán lỏng không chỉ hỗ trợ hệ tiêu hóa hoạt động ổn định hơn mà còn cải thiện khả năng trao đổi chất của heo con. Tuy nhiên, đây là phương pháp đòi hỏi nhiều công lao động, đồng thời tiềm ẩn một số hạn chế như heo sau cai sữa dễ chậm lớn, hình thành thói quen phụ thuộc vào cháo, hoặc phát sinh tình trạng heo sơ sinh thừa con.
Theo kinh nghiệm thực tế, nên sử dụng sữa hoặc dung dịch thay sữa thay cho nước để nấu cháo nhằm tăng độ ngon miệng và khả năng tiếp nhận của heo. Việc cho ăn cháo không nhất thiết phải dùng máng, chỉ cần phễu hoặc dụng cụ phù hợp, nhưng khẩu phần sử dụng phải là thức ăn tập ăn dễ tiêu hóa. Những heo còi cọc cần được tách riêng và cho ăn cháo ngay sau cai sữa; đồng thời nên bố trí chuồng chuyên biệt cho nhóm heo sụt cân thường xuất hiện trong hai tuần đầu sau cai sữa.
Heo con chỉ nên được cho ăn cháo tối đa ba lần mỗi ngày, bởi nếu cho ăn quá thường xuyên sẽ làm giảm khả năng tiếp nhận thức ăn khô được cung cấp tự do trong máng. Thông thường, thời gian cho ăn cháo từ 3–5 ngày là đủ để heo con phục hồi thể trạng và thích nghi với quá trình tiêu hóa thức ăn viên. Việc chuyển đổi từ cháo sang khẩu phần khô cần thực hiện từng bước, bằng cách tăng dần độ đặc của cháo để heo làm quen dần với thức ăn khô hoàn toàn.
Mỗi lần cho ăn chỉ nên cung cấp lượng cháo vừa đủ để heo tiêu thụ hết trong khoảng 20 phút, với mật độ không quá 10 heo con/máng nhằm đảm bảo tất cả heo đều được ăn đầy đủ. Bên cạnh đó, vệ sinh dụng cụ và khu vực cho ăn là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả và thành công của phương pháp cho ăn cháo.
Quản lý nguồn nước
Nước thường được nhắc đến sau cùng trong các tài liệu dinh dưỡng, nhưng trên thực tế lại là chất dinh dưỡng thiết yếu hàng đầu đối với sự sống. Trong những ngày đầu sau cai sữa, heo con thường uống nước nhiều hơn nhu cầu sinh lý thực sự. Đây là phản xạ tự nhiên nhằm bù đắp cảm giác đói và sự thiếu hụt sữa mẹ. Khi bắt đầu tiêu thụ thức ăn khô, nhu cầu nước của heo con tăng rõ rệt, trung bình 2–4 lít nước cho mỗi kg thức ăn ăn vào.
Việc hạn chế nguồn nước uống sẽ làm giảm đáng kể lượng thức ăn tiêu thụ. Tình trạng này thường xảy ra khi núm uống bị khóa, áp lực nước không đạt yêu cầu hoặc heo phải cạnh tranh quá mức, dẫn đến heo giảm ăn rõ rệt. Đặc biệt, khẩu phần giàu protein trong hai tuần đầu sau cai sữa đòi hỏi phải cung cấp nguồn nước dồi dào để cơ thể đào thải lượng nitơ dư thừa qua nước tiểu.
Từ kinh nghiệm thực tiễn, hệ thống cấp nước cần được vệ sinh và làm sạch trước khi đưa vào sử dụng. Việc bổ sung các sản phẩm loại bỏ chất hữu cơ trong đường ống giúp nâng cao hiệu quả khử trùng so với chỉ sử dụng chất sát trùng đơn thuần. Tất cả núm uống và cốc nước phải được kiểm tra định kỳ để đảm bảo hoạt động bình thường. Lưu lượng nước tối thiểu nên đạt 250 ml/phút đối với heo dưới 10 kg và 500 ml/phút đối với heo đến 30 kg, đo tại đầu, giữa và cuối hệ thống đường ống. Mỗi 10–20 heo con cần có ít nhất một núm uống hoặc một cốc nước, tùy theo thiết kế chuồng nuôi và vị trí đặt máng. Núm uống cần được điều chỉnh ở độ cao ngang vai heo con; trong 6–12 giờ đầu sau cai sữa, nên điều chỉnh cho nước nhỏ giọt để giúp heo nhanh chóng làm quen với việc uống nước.
Bên cạnh đó, cần định kỳ kiểm tra chất lượng nước, đặc biệt là hàm lượng sunfat (có thể gây tiêu chảy), độ cứng của nước (ảnh hưởng đến bảo trì hệ thống) và sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh như Salmonella và E. coli. Mặc dù các nghiên cứu tại Canada cho thấy heo con có khả năng thích nghi với sự biến động chất lượng nước trong phạm vi tương đối rộng, nhưng đảm bảo nước sạch và an toàn vẫn là yếu tố nền tảng quyết định hiệu quả nuôi dưỡng sau cai sữa.












































































































































































