

Giá heo hơi hôm nay (18/9) tiếp tục xu hướng đi xuống trên cả ba miền trên cả nước. Đáng chú ý, Phú Thọ ghi nhận mức giảm mạnh nhất 2.000 đồng/kg, trong khi Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh vẫn duy trì mức cao nhất 60.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, nhiều tỉnh như Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Nội, Ninh Bình, Lào Cai và Hưng Yên đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg, đưa giá giao dịch về 57.000 đồng/kg. Phú Thọ là địa phương giảm mạnh nhất, mất tới 2.000 đồng/kg, xuống còn 57.000 đồng/kg. Trong khi đó, Lai Châu và Sơn La hiện giữ mức thấp nhất khu vực với 56.000 đồng/kg.
Như vậy, giá heo hơi miền Bắc hôm nay dao động trong khoảng 56.000 - 58.000 đồng/kg.
Tại miền Trung - Tây Nguyên, mức giảm cũng xuất hiện ở một số địa phương. Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh giảm 1.000 đồng/kg, đưa giá về 55.000 - 56.000 đồng/kg.
Các tỉnh khác như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng giữ mức 55.000 - 57.000 đồng/kg, còn Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa ổn định ở 58.000 đồng/kg.
Lâm Đồng hiện là địa phương có giá cao nhất khu vực với 59.000 đồng/kg.
Như vậy, giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên hôm nay phổ biến trong khoảng 55.000 - 59.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi cũng ghi nhận mức giảm nhẹ. Đồng Nai, Tây Ninh và Đồng Tháp cùng giảm 1.000 đồng/kg, xuống 59.000 đồng/kg. Vĩnh Long lùi về 58.000 đồng/kg, tương đương mức thấp nhất khu vực cùng với Cần Thơ.
Ngược lại, Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh vẫn giữ mức cao nhất là 60.000 đồng/kg, trong khi An Giang neo tại 59.000 đồng/kg.
Tính chung trên cả nước, giá heo hơi hôm nay dao động từ 55.000 - 60.000 đồng/kg. Mức thấp nhất hiện ghi nhận tại Hà Tĩnh và Quảng Trị, còn cao nhất thuộc về Cà Mau và TP. Hồ Chí Minh./.

VỆ SINH PHÒNG BỆNH VÀ MỘT SỐ BỆNH CỦA NGỰA
1. Vệ sinh phòng bệnh trong chăn nuôi ngựa
Vệ sinh thức ăn nước uống
Phải đảm bảo phẩm chất thức ăn cho ngựa: không cho ngựa ăn cỏ có lẫn bùn đất, gai góc, lá độc. Thức ăn tinh phải tốt. Các loại cám, bột ngô nếu đã bị mốc mục tuyệt đối không cho ngựa ăn. Củ quả khi cho ăn phải rửa sạch đất cát, loại bỏ những củ bị hà hoặc thối.
Không cho ngựa uống nước bẩn, nước ở các vũng lầy để phòng bệnh do vi khuẩn hoặc ký sinh trùng đường ruột.
Hàng ngày phải rửa máng ăn, không để tồn lưu thức ăn thừa của ngày hôm trước trong máng.
Ngựa đang làm việc hoặc mới làm việc về, không nên cho uống nước ngay, cho nghỉ 15-20 phút rồi hãy cho uống.
Vệ sinh thân thể
Ngựa cần sạch sẽ để bộ lông mượt, bóng đẹp. Muốn vậy cần năng xoa chải cho ngựa.
Hàng ngày chải cho ngựa một lần với thời gian 10-15 phút. Chải cho ngựa bằng 3 loại bàn chải, gồm bàn chải sắt, bạn chải móc và bàn chải lông theo thứ tự. Chải lần lượt xong bàn chải này mới chuyển sang bàn chải khác. Chải đúng cách là chải bên trái trước bên phải sau, chải từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ nhẹ đến mạnh. Đưa bàn chải đi di lại lại để lấy được mức tối đa ghét bụi bám vào ngựa. Những chỗ không thể dùng bàn chải để chải như đầu, tai, khớp chân thì dùng khăn hoặc vái ướt để lau rửa.
Về mùa hè nên tắm cho ngựa. Tắm rửa và cho ngựa bơi lội làm cho ngựa thêm khỏe mạnh, da dẻ sạch sẽ. Những điểm cần chú ý là: Khi đi tắm không cho ngựa chạy nhanh. Ngựa vừa giao phối, vận động hoặc làm việc về phải cho nghỉ 10-15 phút rồi mới tắm. Khi tắm không được té nước lên đầu ngựa.
Chăm sóc móng
Bảo vệ móng đối với ngựa là hết sức quan trọng. Nếu để lâu không được cắt gọt thì móng ngựa dễ bị nứt nẻ gây ra nhiễm trùng hoặc bị biến dạng, vì thế các loại ngựa từ cai sữa chở đi mỗi tháng nên gọt móng, sửa móng một lần.
Ngựa kéo xe hoặc ngựa cưỡi đường dài cần đóng móng sắt. Ngựa đã đóng móng sắt cũng nên thường xuyên kiểm tra để xem đinh đóng có chắc không đề phòng tuột đinh làm rơi móng sắt.
2. Một số bệnh cần chú ý
Bệnh đau bụng
Ngựa rất dễ bị đau bụng. Gọi là bệnh đau bụng nhưng thực tế không chỉ là một bệnh mà là hội chứng đau bụng gồm nhiều nguyên nhân.
Hội chứng đau bụng ở ngựa rất khó xác định ngay, bởi vì khi đau bụng, con vật biểu hiện các triệu chứng phức tạp như đứng ngồi không yên, chân trước cào đất, chân sau đá vào bụng. Có khi nằm lăn lộn chân duỗi thẳng. Có khi nằm phủ phục phần ngực sát đất, phần sau cao. Có lúc ngồi thở như chó.
Bệnh tiến triển nhanh lại hay bị kế phát từ một bệnh khác làm cho nặng thêm.
Nguyên tắc chẩn đoán và điều trị: Đau bụng là một bệnh cấp tính và thường nguy hiểm. Có khi chỉ 10-2 giờ sau khi phát bệnh, con vật có thể chết, vì thế cần chuẩn đoán và xử lý kịp thời.
Muốn điều trị có kết quả bệnh đau bụng, điều trước tiên là phải chẩn đoán đúng, xác định được bệnh thì mới có phương pháp điều trị tối ưu. Căn cứ vào nguyên nhân sinh đau bụng có thể phân ra thành các trường hợp là: Co thắt ruột, chướng dạ dày, tắc ruột, lồng ruột, viêm dạ dày và ruột cấp tính, táo bón.
Bệnh co thắt ruột
Nguyên nhân: Do các kích thích bên ngoài. Gặp nhiều ở mùa mưa do thời tiết thay đổi đột ngột; do uống nước quá lạnh; do thức ăn kém; do chế độ nuôi dưỡng không hợp lý; do các bệnh khác như viêm ruột, ký sinh trùng làm trở ngại đến sinh lý bình thường của đường tiêu hóa.
Triệu chứng: Phát nhanh và đột ngột sau khi ăn uống từ 1-3 giờ. Đau từng cơn, mỗi cơn cách nhau 10-15 phút. Nghe ở ruột thấy âm to, nhu động ruột tăng, ỉa lỏng, phân có màu xanh tươi, mỗi lần ỉa có nước. Hết mỗi cơn đau ngựa trở lại yên tĩnh bình thường. Nếu chẩn đoán đúng và can thiệp kịp thời thì ngựa khỏi sau khoảng 30 phút.
Chẩn đoán: Đau từng cơn, mỗi cơn kéo dài 3-5 phút, cơn này cách cơn kia 10-15 phút, nghe ruột thấy âm to (tiếng kêu kim loại), phân có màu xanh.
Điều trị: Để nơi ấm, xoa bụng, không cho ngựa lăn lộn. Thụt nước ấm vào trực tràng có pha thêm dầu nóng càng tốt. Có thể cho uống Ychiol với liều 30g 1 lần. Tiêm Novocain 1% với liều 30-40ml
Chướng dạ dày cấp tính
Nguyên nhân: Nguyên nhân chủ yếu là do nuôi dưỡng chăm sóc không đảm bảo như: cho ăn nhiều thức ăn khó tiêu, thức ăn khô; cho ăn thức ăn bị mốc, mục hoặc thức ăn lên men; sau khi ăn thức ăn khô cho uống nhiều nước; ngựa ăn xong bắt làm việc ngay; do thời tiết thay đổi. v..v.
Chẩn đoán: Đau liên tục và dữ dội không phân thành từng cơn, bụng căng, niêm mạc mắt hơi đỏ.
Điều trị: Chà xát vùng bụng, thụt rửa dạ dày, tiêm Pilocacpin.
Phòng bệnh: Cho ngựa ăn thức ăn có phẩm chất tốt, đảm bảo vệ sinh; cho ngựa uống đủ nước nhất là những ngày trời nắng, cho ngựa uống nước sạch. Sau khi ăn xong phải cho ngựa nghỉ ít nhất 30 phút rồi mới bắt làm việc. Trước và sau khi làm việc không nên cho ngựa ăn quá no. Ban đêm cần tạo điều kiện yên tĩnh để ngựa được nghỉ ngơi thoải mái.
Bệnh tiên mao trùng
Do một loại roi trùng có tên khoa học là Trypanosoma evansi ký sinh trùng đường máu gây ra.
Bệnh lây lan chủ yếu do ruồi, mòng đốt hút máu từ vật bị bệnh truyền cho vật khỏe.
Triệu chứng: Thời kỳ bung bệnh khoảng 8-10 ngày. Tiếp đó thân nhiệt tăng cao rất nhanh đến 40-41°C. Ngựa ăn kém hoặc bỏ ăn gầy sút nhanh. Niêm mạc sung huyết, chảy nước mắt, nước mũi. Thủy thũng ở hầu, dưới bụng, mí mắt, mép âm hộ.
Con vật sốt cao trong vòng 2-3 ngày, có khi tới 1 tuần. Sau đó thân nhiệt hạ xuống bình thường, đồng thời triệu chứng lâm sáng giảm nhẹ hoặc không còn nữa. Sau đó 2-3 ngày, có lúc 4-5 ngày ngựa lại sốt cao. Cứ sốt từng đợt như vậy kéo dài hàng tháng. Ngựa ngày một gầy sút, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt sau thành hoàng đản (vàng). Con vật gầy yếu, đi lảo đảo, một thời gian sau thì chết do kiệt sức.
Chẩn đoán: Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng: số cao từng đợt không theo chu kỳ, niêm mạc nhợt nhạt, thủy thũng ở phẩn mềm.
Phòng và trị: Hàng năm tiêm phòng 2 đợt vào tháng 3-4 và 9-10 bằng naganol hoặc trypamidium. Liều phòng bằng một nửa liều điều trị (theo sự hướng dẫn của bác sĩ thú y).
Bệnh ghẻ
Ngựa bị ghẻ luôn luôn ngứa ngáy, đứng không yên, thường cọ sát vùng bị ghẻ vào cây, tường, dóng chuồng.
Bệnh do cái ghẻ sống trên vùng da có lông ngắn đào bới da ăn lớp biểu bì gây ra những mụn nước nhỏ. Mụn vỡ đi tróc thành vẩy.
Cách chữa: Cắt vùng lông bị ghẻ; cạo sạch vẩy, xong bôi dầu maduts có trộn diêm sinh (lưu huỳnh) hoặc bôi dung dịch dipterex 5-6%. Ngày bôi 2-3 lần. Đồng thời phun dung dịch dipterex hoặc dung dịch 666 vào tường, cột, dóng, nền chuồng để diệt cái ghẻ.
Phòng bệnh: Thường xuyên giữ thân thể ngựa sạch sẽ; cách ly với những con bị bệnh. Định kỳ 3 hoặc 6 tháng 1 lần tẩy uế chuồng trại.

NGUYÊN NHÂN HEO NÁI MANG THAI BỎ ĂN VÀ CÁCH XỬ LÝ
Heo nái mang thai bỏ ăn là một hiện tượng thường gặp trong chăn nuôi heo, có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của heo nái và heo con. Nguyên nhân và cách điều trị heo nái bỏ ăn ở giai đoạn này cần được bà con chăn nuôi biết để phòng ngừa và xử lý kịp thời.
1. Nguyên nhân heo nái mang thai bỏ ăn
Rối loạn tiêu hóa: Heo nái có thể bị rối loạn tiêu hóa do cho ăn thức ăn không phù hợp, đổi loại cám cho ăn với thành phần và tỉ lệ dinh dưỡng thay đổi đột ngột, hoặc do thức ăn kém chất lượng, bị cũ, ôi thiu, nấm mốc, nhiễm độc tố hoặc chất bảo quản. Khi rối loạn tiêu hóa, heo nái sẽ có biểu hiện tiêu chảy thông thường, không kèm theo dấu hiệu khác thể hiện bệnh lý nghiêm trọng.
Thay đổi thời tiết, môi trường sống: Khi thời tiết thay đổi, heo nái có thể bị stress, dẫn tới dấu hiệu chán ăn, kém ăn kèm theo tiêu chảy. Đặc biệt là những ngày thời tiết nắng nóng. Stress cũng có thể là nguyên nhân khiến những bệnh tiêu chảy ở heo bùng phát, đặc biệt là những bệnh nguy hiểm hơn. Hoặc tiêu chảy có thể trở nặng dẫn tới các bệnh đường ruột khác ở heo.
Vi khuẩn, virus: Những heo nái chưa được tiêm phòng những loại bệnh nghiêm trọng dễ gây bệnh từ vi khuẩn, virus. Công tác phòng bệnh không đạt tiêu chuẩn khiến heo mắc các bệnh này. Heo nái bỏ ăn do vi khuẩn, virus gây bệnh thường đi kèm với các triệu chứng, biểu hiện bệnh khác bà con có thể nhận biết được.
Ký sinh trùng: Một số trường hợp heo nái bị tiêu chảy do ký sinh trùng, tuy ít hơn nhưng vẫn có thể xuất hiện ở những chuồng trại không được vệ sinh tốt, chuồng dùng lâu năm nhưng không tiêu độc, khử trùng đầy đủ.
Heo nái bỏ ăn ở bất cứ giai đoạn, thời điểm nào cũng sẽ ảnh hưởng đến chức năng sinh sản, khả năng sinh sản và nuôi con. Vì vậy, việc chữa trị cho heo nái cần nhanh chóng và kịp thời để tránh việc hậu quả nghiêm trọng hơn.
2. Cách xử lý heo nái mang thai bỏ ăn
Điều chỉnh khẩu phần ăn: Nếu heo nái bỏ ăn do rối loạn tiêu hóa hoặc do thay đổi thức ăn, cần kiểm tra lại chất lượng và thành phần của thức ăn, loại bỏ những thức ăn hư hỏng, ôi thiu, nấm mốc hoặc có mùi lạ. Tăng cường thức ăn xanh như rau, bèo thêm vào khẩu phần ăn, bổ trợ thêm các loại vitamin và khoáng chất như A, D, E. Nếu cần thiết, có thể cho heo uống hoặc tiêm vitamin C để giúp heo chống stress và tăng sức đề kháng.
Vệ sinh chuồng trại: Nếu heo nái bỏ ăn do stress hoặc do ký sinh trùng, cần vệ sinh chuồng trại thường xuyên, tiêu độc, khử trùng đầy đủ. Sử dụng DESINFECT GLUTAR ACTIVE khử trùng chuồng trại 1- 2 lần/tuần. Ngoài ra, cần giữ cho chuồng trại thoáng mát, không quá nóng hoặc lạnh. Có thể sử dụng quạt hoặc máy làm mát để giảm nhiệt độ trong chuồng khi cần thiết.
Sử dụng thuốc kháng sinh: Nếu heo nái bỏ ăn do vi khuẩn gây bệnh, sử dụng thuốc kháng sinh điều trị bệnh kết hợp thuốc hạ sốt PARA C 15%.
Tiêm phòng các bệnh nguy hiểm: Để phòng ngừa heo nái bỏ ăn do vi khuẩn hoặc virus gây bệnh, cần tiêm phòng đầy đủ cho heo nái các loại bệnh nghiêm trọng như:
Mang thai tuần thứ 10: SFV (dịch tả).
Mang thai tuần thứ 12: E.coli lần 1 + FMD (LMLM) (3 type hoặc 2 type).
Mang thai tuần thứ 14: E.coli lần 2.
Định kỳ vaccine AD (giả dại) tổng đàn nái và đực vào tháng 4, 8, 12 trong năm.
Heo nái bỏ ăn ở giai đoạn mang thai là một vấn đề cần được quan tâm và giải quyết sớm để bảo vệ sức khỏe và năng suất của heo nái và heo con. Bằng cách tìm ra nguyên nhân và áp dụng các biện pháp điều trị phù hợp, bà con chăn nuôi có thể giảm thiểu thiệt hại và tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi heo.

Ngày 16/9: GIÁ HEO HƠI DIỄN BIẾN TRÁI CHIỀU GIỮA CÁC VÙNG MIỀN
Giá heo hơi hôm nay (16/9) đảo chiều giảm tại nhiều địa phương miền Bắc và miền Trung, trong khi thị trường miền Nam duy trì ổn định quanh mức 60.000 - 61.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi điều chỉnh giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg tại hầu hết các tỉnh, thành phố. Theo đó, hiện chỉ còn Hải Phòng và Phú Thọ giữ giao dịch tại mức 60.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.
Sau điều chỉnh, giá heo hơi tại Lai Châu và Sơn La xuống 56.000 đồng/kg, Điện Biên và Lạng Sơn về mức 57.000 đồng/kg; Lào Cai và Thái Nguyên xuống mức 58.000 đồng/kg; Tuyên Quang, Hà Nội và Hưng Yên còn 59.000 đồng/kg.
Hiện tại, giá heo hơi tại khu vực này dao động trong khoảng 56.000 - 60.000 đồng/kg.
Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi cũng theo đà giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg trong sáng nay. Theo đó, các thương lái tại khu vực này đang thu mua heo hơi với giá từ 55.000 - 59.000 đồng/kg.
Trong đó, Quảng Trị là địa phương có giá heo hơi thấp nhất cả nước, giao dịch tại mức 55.000 đồng/kg. Nhỉnh hơn một giá, TP Huế đang mua bán heo hơi tại mức 56.000 đồng/kg. Tiếp đó là TP Đà Nẵng và tỉnh Hà Tĩnh với giá heo hơi đạt 57.000 đồng/kg.
Hiện tại, mức giá phổ biến nhất tại khu vực này là 58.000 đồng/kg, được ghi nhận tại Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hoà. Trong khi đó, Lâm Đồng là địa phương duy nhất có giá heo hơi đạt 59.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.
Tại miền Nam, giá heo hơi vẫn tiếp tục lặng sóng trong sáng nay. Hiện tại, heo hơi tại các tỉnh, thành phố trong khu vực này đang được bán ra với giá từ 60.000 - 61.000 đồng/kg.
Cụ thể, Tây Ninh và Đồng Tháp là hai tỉnh có giá heo hơi cao nhất cả nước, đạt 61.000 đồng/kg. Mức 60.000 đồng/kg đang xuất hiện tại các địa phương còn lại trong vùng, gồm: TP. HCM, Đồng Nai, Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang và Cà Mau.
Khảo sát mới nhất cho thấy giá heo hơi đã trở lại đà giảm tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Trong khi đó, tại các tỉnh thành phía Nam, heo hơi vẫn tiếp tục giữ giá đi ngang. Hiện tại, giá heo hơi trên cả nước dao động từ 55.000 - 61.000 đồng/kg./.

Ngày 10/9: Giá heo hơi duy trì đà tăng mạnh ở cả ba miền trên cả nước
Giá heo hơi hôm nay (10/9) tiếp tục tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg tại nhiều địa phương trên cả nước. Hiện giá heo hơi đang ở mức 57.000 - 61.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi hôm nay tiếp tục tăng ở nhiều địa phương so với ngày hôm trước.
Cụ thể, giá heo tại Tuyên Quang tăng 2.000 đồng/kg, hiện được thu mua với giá 60.000 đồng/kg. Tương tự, Phú Thọ cũng tăng 2.000 đồng/kg, nâng giá thu mua lên mức cao nhất khu vực là 61.000 đồng/kg.
Các địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai và Điện Biên cùng tăng 1.000 đồng/kg, hiện thu mua với mức 58.000 đồng/kg. Tại Lai Châu và Sơn La, giá heo cũng tăng 1.000 đồng/kg, đạt 57.000 đồng/kg.
Các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng và Hưng Yên cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên 60.000 đồng/kg. Tương tự, Ninh Bình và Lào Cai cũng điều chỉnh tăng 1.000 đồng/kg, đạt 59.000 đồng/kg. Trong khi đó, Thái Nguyên vẫn giữ mức thu mua là 59.000 đồng/kg.
Như vậy, giá heo hơi miền Bắc hôm nay duy trì trong khoảng 57.000 - 61.000 đồng/kg.
Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi hôm nay tiếp tục được điều chỉnh tăng từ 1.000 đồng/kg đến 2.000 đồng/kg.
Tại TP. Huế, giá heo hơi tăng 2.000 đồng/kg, lên mức 57.000 đồng/kg.
Thương lái tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Lâm Đồng thu mua heo hơi với giá 59.000 đồng/kg, cùng tăng 1.000 đồng/kg so với hôm trước.
Giá heo tại các địa phương như Hà Tĩnh, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 58.000 đồng/kg. Cùng mức tăng, các tỉnh Quảng Trị, Đà Nẵng và Quảng Ngãi đạt mức 57.000 đồng/kg.
Hiện giá heo hơi tại miền Trung - Tây Nguyên đang dao động trong khoảng 57.000 - 59.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá heo hơi hôm nay ghi nhận xu hướng tăng nhẹ tại TP. HCM, trong khi các địa phương khác đi ngang.
Theo đó, giá heo tại TP. HCM tăng 1.000 đồng/kg, lên 59.000 đồng/kg.
Trong khi đó, các tỉnh Đồng Nai, An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ vẫn neo ở mức 59.000 đồng/kg. Tây Ninh, Đồng Tháp và Cà Mau giữ mức 60.000 đồng/kg, không thay đổi so với hôm trước.
Giá heo tại miền Nam hiện đang dao động trong khoảng 59.000 - 60.000 đồng/kg./.

GIÁ HEO HƠI NGÀY 6/9/2025: TIẾP TỤC XU HƯỚNG TĂNG TRÊN CẢ NƯỚC
Giá heo hơi ngày 6/9/2025, tiếp tục xu hướng tăng trên cả nước. Miền Bắc và miền Trung đồng loạt nhích giá, trong khi miền Nam áp sát mốc 58.000 đồng/kg.
1. Giá heo hơi miền Bắc
Tại miền Bắc, thị trường tiếp tục ghi nhận mức tăng nhẹ tại nhiều địa phương. Giá heo hơi ở Thái Nguyên và Hưng Yên tăng thêm 1.000 đồng/kg, đạt 57.000 đồng/kg. Cao Bằng và Lạng Sơn cũng nhích lên 55.000 đồng/kg, trong khi các địa phương khác duy trì ổn định quanh mức 53.000 – 56.000 đồng/kg. Nhìn chung, trung bình toàn miền Bắc đạt khoảng 55.900 đồng/kg, cao hơn so với ngày trước.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
2. Giá heo hơi miền Trung – Tây Nguyên
Ở miền Trung – Tây Nguyên, không khí giao dịch sôi động hơn khi nhiều tỉnh cùng điều chỉnh tăng. Đà Nẵng và Quảng Ngãi tăng lên 54.000 đồng/kg, Đắk Lắk lên 55.000 đồng/kg, Khánh Hòa giữ 56.000 đồng/kg. Đặc biệt, Lâm Đồng vươn lên 57.000 đồng/kg, thuộc nhóm giá cao nhất khu vực. Mức giá trung bình toàn miền đạt 54.500 đồng/kg.
3. Giá heo hơi miền
Thị trường miền Nam cũng cho thấy tín hiệu tích cực. Giá heo hơi tại Đồng Nai, Tây Ninh và Vĩnh Long tăng lên 58.000 đồng/kg. Cần Thơ và Đồng Tháp giữ mức 58.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại phổ biến từ 57.000 – 58.000 đồng/kg. Trung bình toàn miền Nam đạt 57.800 đồng/kg, áp sát mốc 58.000 đồng/kg.
Việc giá heo hơi đồng loạt tăng tại cả ba miền giúp người chăn nuôi có thêm động lực tái đàn, bù đắp chi phí sau thời gian dài giá neo thấp. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định xu hướng này còn chịu tác động từ tình hình dịch bệnh và nguồn cung nhập khẩu.

7 CÂU HỎI THƯỜNG GẶP VỀ PHỐI GIỐNG HEO NÁI
Hiểu rõ chu kỳ động dục ở heo nái, cách phát hiện và phối giống đúng thời điểm giúp nâng cao tỷ lệ thụ thai. Tìm hiểu kỹ thuật phối giống heo nái hiệu quả cùng giải pháp hỗ trợ phát hiện động dục bằng Mùi Heo Đực.
1. Heo nái bao nhiêu tháng thì phối giống được?
Điều kiện cần và đủ để phối giống cho heo hậu bị là heo phải đạt đủ tháng tuổi và khối lượng cần thiết. Tuổi phối giống lần đầu đối với heo cái giống nội là 7 – 7,5 tháng tuổi và giống lai (ngoại x nội) và giống ngoại là 7,5 – 8 tháng tuổi. Khối lượng phù hợp khi phối giống: Heo Móng Cái là 50 – 55 kg, heo lai (Yorkshire/Landrace x Móng Cái) là 75 – 85 kg, heo ngoại là 110 – 130 kg.
Không nên phối ở chu kỳ động dục đầu tiên để đảm bảo sức khỏe sinh sản và số lượng con sơ sinh.
2. Chu kỳ động dục ở heo nái kéo dài bao lâu?
Chu kỳ động dục trung bình là 21 ngày (dao động từ 17–23 ngày). Thời gian động dục kéo dài khoảng 3–4 ngày, trong đó ngày thứ hai là thời điểm thích hợp nhất để phối giống.
3. Làm sao để nhận biết heo nái đến kỳ động dục?
Dấu hiệu heo nái động dục bao gồm: kêu rít, bỏ ăn, đi lại nhiều, âm hộ sưng đỏ, có dịch nhờn. Đặc biệt, khi heo đứng yên (trạng thái mê ì) khi có lực tác động lên lưng thì đây là thời điểm phối giống tốt nhất.
👉 Để hỗ trợ phát hiện động dục dễ hơn, bà con có thể sử dụng MÙI HEO ĐỰC – sản phẩm giúp kích thích phản xạ đứng yên ở heo nái, nhờ đó xác định chính xác “thời điểm vàng” để phối giống.
4. Thời điểm nào phối giống cho heo nái đạt hiệu quả cao?
Thời điểm phối giống thích hợp nhất là ngày thứ hai của chu kỳ động dục, khi heo đã chịu đứng yên cho con khác nhảy lên lưng. Nên phối 2 lần, cách nhau 10–12 giờ để tăng tỷ lệ thụ thai.
5. Heo nái rạ nên phối giống như thế nào?
Đối với heo nái rạ (đã sinh từ lứa thứ hai trở đi), có thể áp dụng phương pháp phối giống nhân tạo. Sau cai sữa 3–5 ngày, heo sẽ động dục trở lại. Nên phối giống lần 1 sau khi phát hiện trạng thái mê ì 10–12 giờ, sau đó phối lặp lại lần 2.
Kết hợp kiểm tra bằng MÙI HEO ĐỰC khi phối giúp heo nái phê sâu hơn, tăng khả năng thụ thai và tăng tỷ lệ số con sinh ra.
6. Làm sao biết heo nái đã có chửa sau phối giống?
Có thể kiểm tra sau 17–23 ngày: nếu heo không động dục lại thì nhiều khả năng đã có chửa. Ngoài ra, heo nái chửa thường nằm sấp, ít vận động. Để chắc chắn, người nuôi có thể siêu âm kiểm tra hoặc sử dụng sản phẩm MÙI HEO ĐỰC.
7. Nếu heo nái bị động dục giả thì phải làm gì?
Động dục giả thường có biểu hiện: thời gian động dục ngắn (1–2 ngày), dịch nhờn ít, không có phản xạ mê ì. Trong trường hợp này, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tuần vì heo có thể đã có chửa nhưng bị tiêu thai.

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY 04/09/2025: Giá heo hơi tại miền Bắc tăng, miền Trung và miền Nam ổn định
Giá heo hơi tại miền Bắc hôm nay (4/9) tăng nhẹ 1.000 đồng/kg ở một số địa phương, trong khi miền Trung và miền Nam tiếp tục ổn định.
Giá heo hơi trung bình ở miền Bắc đạt khoảng 55.700 đồng/kg. Ảnh tư liệu
Tại miền Bắc, giá heo hơi có tín hiệu khả quan khi một số địa phương điều chỉnh giá. Cụ thể, Phú Thọ và Bắc Ninh cùng tăng 1.000 đồng/kg, hiện đạt 57.000 đồng/kg. Hà Nội và Hải Phòng cũng ghi nhận mức 56.000 đồng/kg, tăng so với hôm qua.
Các tỉnh còn lại duy trì ổn định quanh 53.000 - 55.000 đồng/kg. Như vậy, giá trung bình toàn miền Bắc đạt khoảng 55.700 đồng/kg.
Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi sáng nay đi ngang. Nhóm tỉnh có giá thấp như Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi duy trì 51.000 - 52.000 đồng/kg. Gia Lai neo ở 53.000 đồng/kg, trong khi Khánh Hòa và Lâm Đồng giữ mức cao nhất vùng, đạt 56.000 đồng/kg.
Giá heo hơi trung bình tại tại miền Trung - Tây Nguyên dao động trong khoảng 51.000 - 56.000 đồng/kg.
Khu vực miền Nam tiếp tục ổn định, không ghi nhận biến động mới. TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang và Đồng Tháp thu mua ở mức 57.000 đồng/kg. Cần Thơ và Cà Mau duy trì 58.000 đồng/kg, còn Vĩnh Long và một số tỉnh khác ổn định quanh 56.000 đồng/kg.
Giá trung bình toàn miền Nam hiện dao động 56.000 - 58.000 đồng/kg./.

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY 28/8/2025: GIÁ HEO TẠI MIỀN TRUNG VÀ MIỀN NAM TIẾP TỤC GIẢM SÂU
Giá heo hơi hôm nay (28/8) biến động trái chiều. Theo đó, miền Bắc giữ ổn định, miền Trung và miền Nam giảm sâu. Mức giá phổ biến toàn quốc hiện dao động 51.000 - 59.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn đầu tháng.
Tại miền Bắc, giá heo hơi sáng nay duy trì ổn định, không có biến động so với hôm qua. Các tỉnh trọng điểm như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Yên vẫn thu mua quanh mức 55.000 đồng/kg.
Một số địa phương khác
như Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La giao dịch thấp hơn, phổ biến 53.000 - 54.000 đồng/kg. Mặt bằng giá toàn khu vực hiện neo ổn định trong khoảng 53.000 - 55.000 đồng/kg, tạo sự an tâm nhất định cho người chăn nuôi sau nhiều phiên giảm liên tiếp trước đó.
Miền Trung - Tây Nguyên, tiếp tục điều chỉnh giảm. Tại Đà Nẵng và Quảng Ngãi, giá thu mua chỉ còn 51.000 đồng/kg, mức thấp nhất cả nước. Gia Lai giảm 1.000 đồng xuống 53.000 đồng/kg, Lâm Đồng cũng lùi 1.000 đồng còn 56.000 đồng/kg. Thanh Hóa và Nghệ An hiện thu mua ở mức 53.000 - 54.000 đồng/kg.
Trung bình giá toàn vùng miền Trung - Tây Nguyên còn 53.200 đồng/kg.
Tại miền Nam, sáng 28/8 ghi nhận đà giảm sâu trên diện rộng. Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và Đồng Tháp cùng về 57.000 đồng/kg, trong khi Vĩnh Long giảm xuống còn 56.000 đồng/kg - mức thấp nhất khu vực.
Các tỉnh khác như Cần Thơ, An Giang, Cà Mau, Tây Ninh dao động 58.000 - 59.000 đồng/kg. Trung bình khu vực miền Nam đạt 57.100 đồng/kg, giảm đáng kể so với tuần trước, phản ánh sức mua chưa phục hồi rõ rệt.
Ngày 28/8, giá heo hơi trong nước tiếp tục biến động trái chiều: miền Bắc giữ ổn định, miền Trung và miền Nam giảm sâu. Mức giá phổ biến toàn quốc hiện dao động 51.000 - 59.000 đồng/kg, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn đầu tháng./.

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY 30/8/2025: GIÁ HEO TRƯỚC DỊP ĐẠI LỄ 2/9
Giá heo hơi trên cả nước hôm nay (30/8) duy trì ổn định trong khoảng 51.000 - 58.000 đồng/kg, cho thấy xu hướng đi ngang sau nhiều phiên giảm liên tiếp. Miền Bắc và miền Nam duy trì ổn định, trong khi miền Trung - Tây Nguyên vẫn chênh lệch tùy địa phương nhưng không còn giảm sâu.
Giá heo hơi hôm nay duy trì ổn định từ 51.000 - 58.000 đồng/kg. Ảnh tư liệu
Sáng 30/8, khảo sát cho thấy thị trường heo hơi trong nước tiếp tục đi ngang. Giá thu mua nhìn chung giữ mức 51.000 - 58.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc: giá heo hơi không ghi nhận biến động mới. Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên duy trì 55.000 - 56.000 đồng/kg.
Các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Quảng Ninh, Phú Thọ giao dịch 54.000 - 56.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An vẫn giữ 53.000 đồng/kg. Trung bình toàn vùng đạt 54.600 đồng/kg.
Miền Trung - Tây Nguyên: Giá chững lại sau nhiều phiên giảm. Hà Tĩnh, Quảng Trị, TP Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi dao động 51.000 - 53.000 đồng/kg.
Gia Lai, Thanh Hóa ở mức 53.000 - 54.000 đồng/kg. Khánh Hòa, Lâm Đồng đạt mức cao hơn, khoảng 56.000 đồng/kg. Mặt bằng giá toàn vùng vẫn trong khoảng 51.000 - 56.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, thị trường sáng nay ổn định. TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang giữ 57.000 đồng/kg. Cần Thơ, Cà Mau neo ở 58.000 đồng/kg.
Vĩnh Long dao động quanh 56.000 đồng/kg. Nhìn chung, mức giá miền Nam phổ biến 56.000 - 58.000 đồng/kg.
Ngày 30/8, giá heo hơi trên cả nước giữ nguyên trong khoảng 51.000 - 58.000 đồng/kg, cho thấy xu hướng đi ngang sau nhiều phiên giảm liên tiếp. Miền Bắc và miền Nam duy trì ổn định, trong khi miền Trung - Tây Nguyên vẫn chênh lệch tùy địa phương nhưng không còn giảm sâu./.

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY 25/8/2025: CHƯA NGỪNG ĐÀ GIẢM
Giá heo hơi trên cả nước hôm nay (25/8) vẫn giữ đà giảm tại khu vực miền Bắc và tạm thời đi ngang tại khu vực miền Trung, miền Nam. Hiện tại, heo hơi trên cả nước được bán ra với giá từ 53.000 - 61.000 đồng/kg.
Tại miền Bắc, giá heo hơi giảm một giá tại Lào Cai và Phú Thọ, lần lượt về giá 54.000 đồng/kg và 55.000 đồng/kg.
Tại các tỉnh, thành phố còn lại trong khu vực, giá heo hơi giữ ổn định trong khoảng 54.000 - 57.000 đồng/kg. Trong đó, Hải Phòng là địa phương có giá heo hơi cao nhất khu vực, đạt 57.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, sau nhiều ngày giảm liên tục, thị trường heo hơi bất ngờ đi ngang, duy trì giao dịch trong khoảng 53.000 - 59.000 đồng/kg.
Cụ thể, mức cao nhất khu vực là 59.000 đồng/kg đang được ghi nhận tại Lâm Đồng. Trong khi đó, Đà Nẵng là địa phương duy nhất thu mua heo hơi tại mức 53.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước.
Tại thị trường phía Nam cũng tạm chững giá trong sáng nay. Hiện tại, heo hơi tại khu vực này đang giữ giao dịch trong khoảng 59.000 - 61.000 đồng/kg.
Đây hiện là khu vực duy nhất trên cả nước có giá heo hơi trên 60.000 đồng/kg, với Cà Mau là địa phương có giá heo hơi cao nhất cả nước, đạt 61.000 đồng/kg.
Khảo sát mới nhất cho thấy giá heo hơi vẫn giữ đà giảm tại khu vực miền Bắc và tạm thời đi ngang tại khu vực miền Trung, miền Nam. Hiện tại, heo hơi trên cả nước được bán ra với giá từ 53.000 - 61.000 đồng/kg./.

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY 20/08/2025: Giá heo hơi cả nước tiếp tục giảm sâu
Giá heo hơi cả nước hôm nay (20/8) tiếp tục đi xuống. Mức giảm phổ biến 1.000 - 2.000 đồng/kg khiến nhiều địa phương rơi xuống dưới 60.000 đồng/kg, gây áp lực cho người chăn nuôi. Trong khi đó, các sản phẩm thịt heo tại WinMart đang được bày bán với giá dao động từ 119.922 - 163.122 đồng/kg và giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên.
Giá heo hơi tại tỉnh về 58.000 - 59.000 đồng/kg
Tại miền Bắc, giá heo hơi dao động 56.000 - 59.000 đồng/kg. Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh… cùng giảm về mức 58.000 - 59.000 đồng/kg. Các tỉnh trung du và miền núi như Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên thấp hơn, chỉ còn 56.000 - 57.000 đồng/kg.
Ở miền Trung - Tây Nguyên, giá cũng không mấy khả quan. Nghệ An, Thanh Hóa duy trì ở mức 56.000 đồng/kg; Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam quanh 55.000 - 56.000 đồng/kg. Đáng chú ý, Gia Lai giảm sâu còn 54.000 đồng/kg - mức thấp nhất cả nước hôm nay.
Tại miền Nam, giá heo hơi giữ ở vùng cao hơn nhưng cũng đã điều chỉnh giảm. TP. HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp quanh mức 61.000 - 62.000 đồng/kg. Riêng Cà Mau ghi nhận mức cao nhất cả nước 62.000 đồng/kg, nhưng đã giảm 1.000 đồng/kg so với hôm qua.
Theo thương lái, nguồn cung dồi dào trong khi sức mua chậm lại khiến giá khó duy trì ở mức cao. Nếu nhu cầu tiêu thụ không cải thiện, giá heo hơi những ngày tới có thể giảm thêm, nhất là ở miền Trung và Tây Nguyên.
Giá thịt heo tại siêu thị, công ty thực phẩm bán lẻ
Khảo sát sáng ngày 20/8 cho thấy giá thịt heo mát Meat Deli tại trang winmart.vn tiếp tục kéo
dài xu hướng đi ngang. Hiện tại, các sản phẩm được bày bán với giá dao động từ 119.922 - 163.122 đồng/kg và giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
Cụ thể, giá niêm yết của một số sản phẩm được khảo sát như sau: thịt heo xay 119.922 đồng/kg, thịt nạc đùi heo 122.320 đồng/kg, thịt nạc vai heo 126.320 đồng/kg, chân giò rút xương 127.922 đồng/kg, thịt nạc dăm heo 157.520 đồng/kg, thịt ba rọi 163.122 đồng/kg.
Tại Công ty Thực phẩm Tươi sống Hà Hiền, giá thịt heo bình ổn. Hiện tại, các sản phẩm thịt heo được bán với giá trong khoảng 89.000 - 190.000 đồng/kg.
Theo ghi nhận, 89.000 đồng/kg là giá mỡ heo được ghi nhận thấp nhất trong các sản phẩm được khảo sát. Cao hơn là giá thịt nạc đùi heo 126.000 đồng/kg, sườn già heo 134.000 đồng/kg và nạc vai heo 136.000 đồng/kg./.

HỘI CHỨNG GIẢM ĐẺ TRÊN GÀ (EDS: EGG DROP SYNDROME)
Hội chứng giảm đẻ do virus gây ra là bệnh truyền nhiễm trên gà. Bệnh không gây chết nhưng làm giảm năng suất đẻ trứng và tổn hại buồng trứng của gà vĩnh viễn.
1. Nguyên nhân gây hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ (Egg Drop Syndrome – EDS) do virus thuộc nhóm Adenovirus gây bệnh ở gà.
Virus EDS tương đối bền với Chloroform, chịu được độ pH từ 3 – 10. Với nhiệt độ, virus bất hoạt sau 30 phút ở 600C, 3 giờ ở 560C. Tính gây bệnh của virus sẽ mất đi sau khi xử lý với Formaldehyde 0,5% và Glutaraldehyde 0,5%.
Loài mắc bệnh: Virus có thể gây bệnh cho tất cả các loại gia cầm, thủy cầm. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi từ gà con đến gà trưởng thành. Tuy nhiên, bệnh thường xảy ra ở gà đẻ công nghiệp (thương phẩm) và gà đẻ trứng giống trong giai đoạn từ 26 – 35 tuần tuổi, thời gian đẻ đỉnh của gia cầm.
2. Dịch tễ của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ năm 1976 (EDS 76) ở gà nhà (và đôi khi cả chim cút Nhật Bản và gà lôi) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976 và do một loại virus thuộc họ Adenoviridae gây ra. Virus EDS 76 lưu hành trong điều kiện phơi nhiễm tự nhiên, chủ yếu ở vịt và ngỗng nhà dưới dạng nhiễm trùng tiềm ẩn, nhưng không lưu hành tự nhiên ở các loài gia cầm khác. Vịt và ngỗng sống tự do thuộc một số chi và loài cũng có thể bị nhiễm trùng tiềm ẩn trong điều kiện tự nhiên (Kaleta và cộng sự, 2003).
3. Phương thức lây truyền hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Đường truyền lây: Bệnh lây truyền theo 2 con đường:
Lây truyền dọc: Bệnh lây từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng bị nhiễm mầm bệnh. Tuy số lượng trứng bị ảnh hưởng không nhiều nhưng đây là đường truyền lây nguy hiểm. Trong nhiều trường hợp, gà bị nhiễm virus từ trứng không bài thải virus cũng như không sản sinh kháng thể. Chỉ đến khi tỷ lệ đẻ trong đàn đạt trên 50%, giai đoạn virus bị tái kích hoạt, con vật bài thải virus làm bệnh lây lan nhanh trong đàn.
Lây truyền ngang: Bệnh lây từ gà bệnh sang gà khỏe qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, các chất thải từ gà bị nhiễm bệnh. Do vậy, sự lan truyền mầm bệnh giữa các gà trong kiểu nuôi chuồng lồng khá chậm vì được nuôi tách biệt. Núm uống, máng ăn, ô chuồng tương đối tách biệt. Mầm bệnh sẽ lây lan nhanh hơn đối với gà nuôi kiểu sàn.
Cơ chế sinh bệnh: Virus vào cơ thể gây nhiễm trùng huyết và nhân lên tại các mô lympho trên khắp cơ thể. Trong đó, vòi trứng và ống dẫn trứng cũng bị ảnh hưởng dẫn đến bị viêm nên quá trình hình thành vỏ trứng diễn ra không bình thường. Thời gian ủ bệnh từ 7 – 9 ngày có một số trường hợp gây bệnh sau 17 ngày bị nhiễm.
4. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ trên gà, thời gian nung bệnh từ 7-9 ngày, kéo tài từ 6-12 tuần và có những triệu chứng đặc trưng sau:
Gà bị bệnh vẫn ăn uống bình thường hoặc giảm ăn. Một số trường hợp gà có hiện tượng tiêu chảy nhất thời, mào nhợt nhạt (chiếm khoảng 10-70%).
Tỷ lệ đẻ trứng giảm đột ngột 20-40% (tương đương 12-16 trứng/gà), có khi lên tới 50%.
Vỏ trứng bị mất màu, trứng nhỏ.
Trứng nhỏ, vỏ mềm hoặc không có vỏ cứng, vỏ canxi bị biến dạng, hình dạng méo mó.
Bề mặt vỏ trứng mỏng, xù xì, nhám, có nhiều hạt lắng đọng trên bề mặt vỏ.
Lòng trắng loãng, tỷ lệ ấp nở giảm do chất lượng trứng bị ảnh hưởng.
H1. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
5. Bệnh tích của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
H2. Buồng trứng gà bị teo nhỏ
Hội chứng giảm đẻ trên gà thường tác động trực tiếp lên buồng trứng và ống dẫn trứng còn các bệnh tích khác thường không rõ ràng:
Buồng trứng và ống dẫn trứng bị viêm, teo nhỏ.
Trứng non không phát triển.
Viêm tử cung, thủy thũng.
Lách bị sưng to, tế bào trứng mềm nhũn, quan sát thấy nhiều giai đoạn phát triển của trứng trong xoang bụng.
6. Chẩn đoán hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Chẩn đoán lâm sàng: Hội chứng giảm đẻ ở gà có thể được chẩn đoán dựa vào hiện tượng giảm sản lượng trứng không đạt được như đã dự báo hoặc sản lượng trứng đột nhiên giảm, đặc biệt khi gà đang khỏe mạnh nhưng vỏ trứng bị thay đổi hoặc sức khỏe đàn gà giảm sút cùng với chất lượng vỏ trứng. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của bệnh rất dễ nhầm lẫn với bệnh khác.
Bên cạnh đó khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh đã gây ảnh hưởng đến năng suất đàn gà đẻ, ảnh hưởng đến kinh tế người nuôi. Cần tiến hành giám sát mầm bệnh lưu hành trong đàn trước giai đoạn gà đẻ trứng, từ đó có những biện pháp kịp thời điều trị bệnh.
Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Có nhiều phương pháp chẩn đoán, giám sát bệnh như: phản ứng HI, ELISA, iiPCR. Trong đó, kỹ thuật iiPCR đang được nhiều cơ sở thú y, trang trại lớn nhỏ lựa chọn.
7. Phòng hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Tiêm phòng cho đàn gà khi được 15-16 tuần tuổi bằng các loại vaccine theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Hiện có nhiều loại vaccine trên thị trường được sử dụng để phòng hội chứng giảm đẻ như: Nobilis G+ND+EDS, Nobilis IB+ND+EDS, Medivac ND – EDS Emulsion, Medivac ND – EDS – IB K, Cevac ND – IB – IBD – EDS, …
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
UMBROTOP: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng. Pha 1ml/5lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
UMBROCAL: Bổ sung hỗn hợp vitamin, khoáng đa, vi lượng, axit amin, giúp vật nuôi đẻ khoẻ, đẻ nhiều, trứng to, vỏ dày. Pha nước 1ml/1L nước, cho uống 2 ngày/tuần.
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt.
8. Điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hiện nay chưa có thuốc điều trị hội chứng giảm đẻ ở gà.
Khi gà bị bệnh, cần bổ sung thuốc bổ, vitamin, tăng hàm lượng canxi và protein trong khẩu phần cho gà đẻ, gà giống để tăng năng suất đẻ và tăng chất lượng trứng.

QUY TRÌNH NUÔI GÀ ĐẺ TRONG CHUỒNG KÍN AN TOÀN SINH HỌC
Sau mưa lũ, vệ sinh và khử trùng là các bước quan trọng để khôi phục chuồng trại về trạng thái an toàn, đảm bảo sức khỏe vật nuôi và duy trì hiệu quả kinh tế.
1. Tu sửa chuồng trại
Gia cố lại chuồng trại, khơi thông cống rãnh, nạo vét, phát quang bụi rậm, hố chứa phân, phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi để khu vực chuồng nuôi khô ráo, chắc chắn trước khi đưa gia súc, gia cầm vào nuôi.
Kiểm tra tất cả các thiết bị như máng ăn, hệ thống cấp nước và thông gió xem có bị hư hỏng do nước không. Đặc biệt, hệ thống điện cần được đảm bảo an toàn trước khi sử dụng.
Thực hiện các giải pháp để làm khô chuồng trại. Việc làm khô đúng cách rất quan trọng để ngăn ngừa sự phát triển của nấm mốc và vi khuẩn, vốn phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt. Người nuôi có thể áp dụng các phương pháp sau để chuồng trại nhanh được khô ráo:
Thông gió tự nhiên: Mở cửa và cửa sổ để tăng cường luồng không khí, giúp giảm độ ẩm bên trong chuồng trại.
Thông gió cơ học: Sử dụng quạt công nghiệp và máy thổi để tăng cường lưu thông không khí. Quạt nên được đặt chiến lược để tối ưu hóa luồng không khí trong toàn bộ chuồng.
Máy hút ẩm: Máy hút ẩm có thể được sử dụng để loại bỏ độ ẩm trong không khí, đặc biệt trong các không gian kín nơi thông gió tự nhiên không đủ.
Kiểm soát nhiệt độ: Nếu có thể, tăng nhiệt độ bên trong chuồng để đẩy nhanh quá trình sấy khô.
2. Vệ sinh, thu gom chất thải
Loại bỏ tất cả tàn dư như thiết bị hỏng, cành cây, và bùn cát bằng xẻng, xe rùa hoặc máy móc. Chú ý đặc biệt đến các vật sắc nhọn và chất độc hại có thể gây thương tích. Người nuôi cần trang bị bảo hộ lao động, bao gồm: Găng tay, khẩu trang, quần áo bảo hộ và ủng để giảm thiểu tiếp xúc với vi khuẩn có hại, nấm mốc và các vật sắc nhọn có thể có mặt.
Nước lũ thường mang theo các mầm bệnh như E.coli, Salmonella, và các loại nấm mốc có thể làm ô nhiễm thức ăn và chất độn chuồng, khiến chúng không an toàn cho vật nuôi. Do đó, cần xử lý tất cả thức ăn và chất độn chuồng bị ô nhiễm theo quy định địa phương để ngăn ngừa sự lan truyền của mầm bệnh. Tránh ủ các vật liệu này vì chúng có thể chứa vi khuẩn có hại.
Đất và nước trong chuồng có thể chứa vi khuẩn có hại, hóa chất và mảnh vỡ. Người nuôi cần lấy mẫu để đến cơ sở chức năng kiểm tra mức độ nhiễm các vi sinh vật, chỉ tiêu pH và các nguy cơ tiềm ẩn khác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.
Sử dụng máy bơm để loại bỏ nước đọng, đảm bảo hướng dòng nước ra xa các khu vực sạch để tránh tái nhiễm.
Đối với rác thải là phân, chất độn chuồng, rác hữu cơ cần thực hiện xử lý bằng biện pháp sinh học hoặc đào sâu chôn chặt, đốt để hạn chế các vấn đề ô nhiễm môi trường và các loại mầm bệnh. Đối với xác gia súc, gia cầm chết, khẩn trương thu gom và xử lý để hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm môi trường.
3. Khử trùng
Tiến hành phun tiêu độc, khử trùng chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi bằng thuốc sát trùng; rắc vôi bột hoặc phun các loại thuốc sát trùng toàn bộ lối đi, hành lang, cổng, đường đi và phương tiện.
Nên chọn hóa chất sát trùng ít độc hại đối với người, vật nuôi, môi trường, có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu diệt được nhiều loại mầm bệnh; Người thực hiện khử trùng tiêu độc phải sử dụng bảo hộ lao động phù hợp; Trước khi phun hóa chất sát trùng phải làm sạch đối tượng khử trùng tiêu độc bằng biện pháp cơ học (quét dọn, cạo, cọ rửa); Pha chế và sử dụng hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm pha đúng nồng độ, phun đúng tỷ lệ trên một đơn vị diện tích.
Tham khảo các loại thuốc sát trùng:
- FOAM 32T – Tẩy rửa gốc kiềm tạo bọt mạnh à Làm sạch chuồng trại, xe vận chuyển, dụng cụ
- DESINFECT O – Sát trùng trang thiết bị, quần áo bảo hộ, tắm sát trùng
- DESINFECT GLUTAR ACTIVE – Khử trùng bằng khói à Diệt khuẩn không khí & bề mặt toàn trại, kho cám, kho thuốc, silo…
- KLORTAB – Diệt khuẩn nguồn nước, tay, thiết bị à Dùng cho nước uống, nước sinh hoạt, ngâm tay, ngâm đồ bảo hộ, xử lý dụng cụ
4. Quy trình vệ sinh, sát trùng
– Bước 1: Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa. Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn, nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
– Bước 2: Rửa sạch bằng nước. Sau khi vệ sinh, tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn,… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1 – 3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe,…), phải dùng vòi xịt áp suất cao.
– Bước 3: Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy. Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
– Bước 4: Sát trùng bằng thuốc sát trùng. Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp, dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc. Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
– Bước 5: Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1 – 2 ngày.
Lưu ý
Khi chuồng trại đã được vệ sinh và xác nhận an toàn, cần tuân thủ các quy trình tái đàn gia súc và gia cầm để giảm thiểu rủi ro bệnh tật.
Đảm bảo thức ăn và nước uống được kiểm tra và đạt tiêu chuẩn an toàn trước khi cung cấp cho vật nuôi. Thay thế các đường ống nước hoặc bể chứa đã bị ô nhiễm.
Tái đàn dần dần và giám sát chặt chẽ các dấu hiệu của dịch bệnh (nếu có).

VỆ SINH CHUỒNG TRẠI SAU MÙA MƯA LŨ
Sau mưa lũ, vệ sinh và khử trùng là các bước quan trọng để khôi phục chuồng trại về trạng thái an toàn, đảm bảo sức khỏe vật nuôi và duy trì hiệu quả kinh tế.
1. Tu sửa chuồng trại
Gia cố lại chuồng trại, khơi thông cống rãnh, nạo vét, phát quang bụi rậm, hố chứa phân, phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi để khu vực chuồng nuôi khô ráo, chắc chắn trước khi đưa gia súc, gia cầm vào nuôi.
Kiểm tra tất cả các thiết bị như máng ăn, hệ thống cấp nước và thông gió xem có bị hư hỏng do nước không. Đặc biệt, hệ thống điện cần được đảm bảo an toàn trước khi sử dụng.
Thực hiện các giải pháp để làm khô chuồng trại. Việc làm khô đúng cách rất quan trọng để ngăn ngừa sự phát triển của nấm mốc và vi khuẩn, vốn phát triển mạnh trong điều kiện ẩm ướt. Người nuôi có thể áp dụng các phương pháp sau để chuồng trại nhanh được khô ráo:
Thông gió tự nhiên: Mở cửa và cửa sổ để tăng cường luồng không khí, giúp giảm độ ẩm bên trong chuồng trại.
Thông gió cơ học: Sử dụng quạt công nghiệp và máy thổi để tăng cường lưu thông không khí. Quạt nên được đặt chiến lược để tối ưu hóa luồng không khí trong toàn bộ chuồng.
Máy hút ẩm: Máy hút ẩm có thể được sử dụng để loại bỏ độ ẩm trong không khí, đặc biệt trong các không gian kín nơi thông gió tự nhiên không đủ.
Kiểm soát nhiệt độ: Nếu có thể, tăng nhiệt độ bên trong chuồng để đẩy nhanh quá trình sấy khô.
2. Vệ sinh, thu gom chất thải
Loại bỏ tất cả tàn dư như thiết bị hỏng, cành cây, và bùn cát bằng xẻng, xe rùa hoặc máy móc. Chú ý đặc biệt đến các vật sắc nhọn và chất độc hại có thể gây thương tích. Người nuôi cần trang bị bảo hộ lao động, bao gồm: Găng tay, khẩu trang, quần áo bảo hộ và ủng để giảm thiểu tiếp xúc với vi khuẩn có hại, nấm mốc và các vật sắc nhọn có thể có mặt.
Nước lũ thường mang theo các mầm bệnh như E.coli, Salmonella, và các loại nấm mốc có thể làm ô nhiễm thức ăn và chất độn chuồng, khiến chúng không an toàn cho vật nuôi. Do đó, cần xử lý tất cả thức ăn và chất độn chuồng bị ô nhiễm theo quy định địa phương để ngăn ngừa sự lan truyền của mầm bệnh. Tránh ủ các vật liệu này vì chúng có thể chứa vi khuẩn có hại.
Đất và nước trong chuồng có thể chứa vi khuẩn có hại, hóa chất và mảnh vỡ. Người nuôi cần lấy mẫu để đến cơ sở chức năng kiểm tra mức độ nhiễm các vi sinh vật, chỉ tiêu pH và các nguy cơ tiềm ẩn khác có thể ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.
Sử dụng máy bơm để loại bỏ nước đọng, đảm bảo hướng dòng nước ra xa các khu vực sạch để tránh tái nhiễm.
Đối với rác thải là phân, chất độn chuồng, rác hữu cơ cần thực hiện xử lý bằng biện pháp sinh học hoặc đào sâu chôn chặt, đốt để hạn chế các vấn đề ô nhiễm môi trường và các loại mầm bệnh. Đối với xác gia súc, gia cầm chết, khẩn trương thu gom và xử lý để hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm môi trường.
3. Khử trùng
Tiến hành phun tiêu độc, khử trùng chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi bằng thuốc sát trùng; rắc vôi bột hoặc phun các loại thuốc sát trùng toàn bộ lối đi, hành lang, cổng, đường đi và phương tiện.
Nên chọn hóa chất sát trùng ít độc hại đối với người, vật nuôi, môi trường, có tính sát trùng nhanh, mạnh, kéo dài, hoạt phổ rộng, tiêu diệt được nhiều loại mầm bệnh; Người thực hiện khử trùng tiêu độc phải sử dụng bảo hộ lao động phù hợp; Trước khi phun hóa chất sát trùng phải làm sạch đối tượng khử trùng tiêu độc bằng biện pháp cơ học (quét dọn, cạo, cọ rửa); Pha chế và sử dụng hóa chất sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bảo đảm pha đúng nồng độ, phun đúng tỷ lệ trên một đơn vị diện tích.
Tham khảo các loại thuốc sát trùng:
- FOAM 32T – Tẩy rửa gốc kiềm tạo bọt mạnh à Làm sạch chuồng trại, xe vận chuyển, dụng cụ
- DESINFECT O – Sát trùng trang thiết bị, quần áo bảo hộ, tắm sát trùng
- DESINFECT GLUTAR ACTIVE – Khử trùng bằng khói à Diệt khuẩn không khí & bề mặt toàn trại, kho cám, kho thuốc, silo…
- KLORTAB – Diệt khuẩn nguồn nước, tay, thiết bị à Dùng cho nước uống, nước sinh hoạt, ngâm tay, ngâm đồ bảo hộ, xử lý dụng cụ
4. Quy trình vệ sinh, sát trùng
– Bước 1: Làm sạch chất hữu cơ trước khi rửa. Hầu hết các thuốc sát trùng không có tác dụng diệt khuẩn, nếu dụng cụ được sát trùng không sạch sẽ. Trước khi rửa bằng nước cần dùng chổi, xẻng hoặc các dụng cụ thích hợp làm sạch các chất hữu cơ bám trên nền chuồng, tường chuồng, trên bề mặt các dụng cụ chăn nuôi…
– Bước 2: Rửa sạch bằng nước. Sau khi vệ sinh, tiến hành rửa sạch bằng nước. Đối với dụng cụ, sàn, vách ngăn,… bị chất bẩn bám chặt bề mặt lâu ngày, cần ngâm nước 1 – 3 ngày trước khi rửa. Đối với một số chỗ khó rửa (các góc, khe,…), phải dùng vòi xịt áp suất cao.
– Bước 3: Tẩy bằng xà phòng, nước vôi hoặc thuốc tẩy. Dùng nước xà phòng, nước vôi 30% hoặc thuốc tẩy rửa để phun, dội rửa lên nền hoặc ngâm các dụng cụ chăn nuôi.
– Bước 4: Sát trùng bằng thuốc sát trùng. Dùng thuốc sát trùng với liều lượng phù hợp, dùng nước có nhiệt độ phù hợp để pha loãng thuốc. Lưu ý thời hạn dùng thuốc và thời hạn dùng dung dịch thuốc sát trùng đã pha loãng. Cần đảm bảo đủ thời gian cho thuốc tiếp xúc với dụng cụ được sát trùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi phun thuốc sát trùng, phải mặc quần áo bảo hộ lao động.
– Bước 5: Sau khi khử trùng bằng thuốc, cần phải để khô dụng cụ và trang thiết bị. Với chuồng nuôi, thời gian để khô trước khi thả gia súc, gia cầm vào là 1 – 2 ngày.
Lưu ý
Khi chuồng trại đã được vệ sinh và xác nhận an toàn, cần tuân thủ các quy trình tái đàn gia súc và gia cầm để giảm thiểu rủi ro bệnh tật.
Đảm bảo thức ăn và nước uống được kiểm tra và đạt tiêu chuẩn an toàn trước khi cung cấp cho vật nuôi. Thay thế các đường ống nước hoặc bể chứa đã bị ô nhiễm.
Tái đàn dần dần và giám sát chặt chẽ các dấu hiệu của dịch bệnh (nếu có).












































































































































































