NGUYÊN TẮC KINH DOANH

  1. Chúng tôi tuân thủ luật pháp và các chuẩn mực về đạo đức
  2. Chúng tôi duy trì một bản sắc văn hóa trong sạch
  3. Chúng tôi tôn trọng đối tác, khách hàng và nhân viên của mình.
  4. Chúng tôi quan tâm đến môi trường, sự an toàn và sức khỏe
  5. Chúng tôi là một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội
  6. Đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp
  7. Khái niệm đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp (DN) mới chỉ tồn tại được khoảng 3 thập niên trở lại đây. Norman Bowie – Nhà nghiên cứu đạo đức kinh doanh nổi tiếng là người đầu tiên đã đưa ra khái niệm này tại Hội nghị Khoa học vào năm 1974. Kể từ đó, đạo đức kinh doanh đã trở thành một chủ đề phổ biến trong các cuộc tranh luận của các doanh nhân, các nhà phân tích, người lao động, các cổ đông, người tiêu dùng…Không phải tất cả những nhà nghiên cứu, các tác giả và diễn giả đều có chung quan điểm về đạo đức kinh doanh. Trước hết, giữa kinh doanh và đạo đức luôn có sự mâu thuẫn. Một mặt, xã hội luôn mong muốn các DN tạo ra nhiều việc làm lương cao, nhưng mặt khác, những DN này lại mong muốn giảm bớt chi phí và nâng cao năng suất lao động.Người tiêu dùng luôn mong muốn mua hàng với giá thấp nhất, còn các cơ sở thương mại lại muốn có lãi suất cao nhất. Xã hội mong muốn giảm ô nhiễm môi trường, còn các DN lại muốn giảm tối đa chi phí phát sinh khi tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất của họ. Từ đó đã nảy sinh xung đột không thể tránh khỏi trong quan niệm về đạo đức kinh doanh, do sự khác biệt về lợi ích của công ty với lợi ích của người lao động, người tiêu dùng và toàn thể xã hội. Vì tất cả những điều đối lập nói trên là tất yếu nên các nhà quản lý buộc phải nghiên cứu để cân bằng lợi ích của công ty với lợi ích của các cổ đông và những người có quyền lợi liên quan, bao gồm nhân viên, khách hàng và toàn thể cộng đồng.Đạo đức kinh doanh là vấn đề phức tạp trong phạm vi một đất nước, nhưng chúng còn phức tạp hơn khi xét trong bối cảnh toàn cầu. Để hình thành mỗi môi trường đạo đức kinh doanh, phải có một số điều kiện được thiết lập bao gồm: Sự bền vững của xã hội, tính hợp pháp của thể chế và trách nhiệm của Chính phủ; tính hợp pháp của sở hữu và tải sản tư nhân, niềm tin đối với tương lai của xã hội và của bản thân mình, niềm tin vào khả năng cung cấp cho gia đình mình và kiến thức mà hệ thống hoạt động cũng như cách thức để tham gia vào hệ thống đó.Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trườngXã hội học coi trách nhiệm xã hội như một sự cam kết về tinh thần, đạo đức, văn hoá đối với gia đình, cộng đồng địa phương và toàn xã hội, nhân viên, môi trường. Trong nền kinh tế thị trường, mọi cá nhân và DN đều hành xử sao cho có lợi nhất cho mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Kinh tế thị trường được C.Mác mô tả trong các tác phẩm của mình không có trách nhiệm xã hội, mà ở đó người chủ tư bản được mô tả là một kẻ bóc lột tàn bạo, mất nhân tính, vô văn hóa đến kiệt sức người lao động nhằm tối đa hoá lợi nhuận ngắn hạn. Sự mô tả đó đã giúp kinh tế thị trường tự hoàn thiện trong quá trình đấu tranh của nhân dân cùng với tiến bộ trong nhận thức của khoa học kinh tế.

    Để hình thành mỗi môi trường đạo đức kinh doanh, phải có một số điều kiện được thiết lập gồm: Sự bền vững của xã hội, tính hợp pháp của thể chế và trách nhiệm của Chính phủ; tính hợp pháp của sở hữu và tài sản tư nhân, niềm tin đối với tương lai của xã hội và bản thân mình và kiến thức mà hệ thống hoạt động cũng như cách thức để tham gia vào hệ thống đó.

    Kinh tế học về thông tin cũng chỉ rõ bản chất của sự lừa đảo là bất đối xứng thông tin, do đó cần phải công khai, minh bạch, giám sát, nhằm giảm bớt sự bất đối xứng thông tin đó chứ không phải gán ghép lừa đảo như một bản chất của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường ngày nay đã hình thành một hệ thống các quy định pháp luật chi tiết, nhằm chế định hành vi của các bên tham gia và bảo vệ lợi ích của cộng đồng, của xã hội. Các quy định đó đã giảm bớt đáng kể những hành vi vô trách nhiệm một cách thái quá của DN (Bởi một khi doanh nhân hành xử tư lợi, thiếu trách nhiệm… sẽ bị thay thế khi DN thua lỗ hay phá sản).

    Trong bối cảnh hiện nay, mô hình hiện thời của kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước không những không hoàn hảo mà còn có những khiếm khuyết nghiêm trọng, rất cần được phát hiện và chỉnh sửa. Việc đóng gói những món nợ hay thế chấp thành những sản phẩm phái sinh đem bán trên thị trường chứng khoán, việc nới lỏng trần tín dụng để đẩy việc xây nhà và tiêu dùng lên cao, việc đồng loã giữa các công ty đánh giá và xếp hạng với ngân hàng được xếp hạng (như Lehman Brothers), hay việc che dấu và lừa dối khách hàng, đều cần phải điều chỉnh, xem xét trách nhiệm của từng bên tham gia và có quy định pháp luật chặt chẽ để khắc phục.

    Trách nhiệm xã hội của DN được định nghĩa ngắn gọn như một sự cam kết của DN trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng, nhà cung ứng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường. Theo đó, trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh, có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của DN.

    Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, khi ý thức của loài người về các nguy cơ đối với môi trường sống ngày càng cao thì yêu cầu về trách nhiệm xã hội cũng ngày càng tăng lên, như yêu cầu phải kiểm soát khí thải của xe hơi lưu hành trên đường phố, kiểm soát mức độ khói bụi trong các khu dân cư… Trong đó, có ít nhất 4 nhóm đối tượng mà DN phải có trách nhiệm trong ứng xử đối với các đối tượng sau: Thị trường và người tiêu dùng (bao gồm cả nhà đầu tư, ngân hàng, nhà cung ứng và hợp tác); Người lao động; Cộng đồng trong khu vực và trong xã hội trong nước và thế giới; và môi trường sống.

Bài viết sau đó TRIẾT LÝ 3 WIN