HEO

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH VIÊM DẠ DÀY RUỘT TRUYỀN NHIỄM – Transmissble gastroenteritis of swine

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH VIÊM DẠ DÀY RUỘT TRUYỀN NHIỄM – Transmissble gastroenteritis of swine

1. Nguyên nhân gây bệnh Viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do một virus thuộc nhóm Coronavirus gây ra. Virus chứa ARN, có hình tròn đặc biệt, vây quanh bởi một vành các chồi đâm nhô ra và được phủ bởi một lớp bọc protein dễ bị phá huỷ bởi các chất sát trùng. Virus kháng axít, không bị tiêu diệt bởi axit chlorhydric (HCL) và Tripcin của dạ dày, ruột, cho phép nó đi xuống ruột và gây nhiễm cho ruột non. Virus có tính hướng khu trú trong các tế bào biểu bì dạ dày ruột, nhất là ruột non. Chúng kí sinh và sinh sản trong nguyên sinh chất tế bào biểu bì. Sau khi heo bị nhiễm virus, trong giai đoạn sốt có thể tìm thấy virus ở trong máu và trong tất cả các cơ quan tổ chức của cơ thể heo bệnh. Virus TGE có thể gây bệnh cho heo ở mọi lứa tuổi song nặng nhất là ở heo con từ 1 - 3 tuần tuổi, gây chết chủ yếu ở heo từ 4 - 10 ngày 2. Đặc điểm dịch tễ TGE là một bệnh chỉ có ở heo. Chó, mèo, cáo, chồn,… có thể bị nhiễm và mang trùng virus TGE. Chúng thải virus qua phân, nước tiểu và …

QUY TRÌNH XỬ LÝ DỊCH TIÊU CHẢY TRÊN HEO – Porcine Epidemic Diarrhae

QUY TRÌNH XỬ LÝ DỊCH TIÊU CHẢY TRÊN HEO – Porcine Epidemic Diarrhae

1. Nguyên nhân gây bệnh Virus gây dịch tiêu chảy (PED) được ký hiệu là PEDV, thuộc họ Coronaviridae. Chúng có đa hình thái nhưng hầu hết là hình tròn, với đường kính 90 - 190nm, trung bình khoảng 130nm. Chúng là những virus hướng biểu bì ruột, rất nhạy cảm với Chloroform. Virus ngưng kết hồng cầu của 13 loại gia súc, gia cầm khác nhau. Chúng khá bền với pH giữa 5 - 9 ở 40oC và pH 6,5 - 7,5 ở 37oC, nhưng dễ bị tiêu diệt khi nhiệt độ lớn hơn 60oC. Quá trình sinh sản không bị ức chế bởi 5 iodo-2’deoxyuridine, điều đó chứng tỏ chứng tỏ virus chứa ARN. Virus gây dịch tiêu chảy (PEDV) được chia ra hai typ 1 và 2, nhưng người ta chưa chứng minh hết được vai trò gây bệnh của mỗi typ. 2. Đặc điểm dịch tễ Năm 1977, Wood mô tả hiện tượng tiêu chảy do viêm dạ dày ruột (TGE) ở tất cả các lứa tuổi heo. Năm 1982, Pansaert và cộng sự thấy rằng typ 2 gây bệnh TGE ở heo con và typ 1 gây bệnh tiêu chảy ở heo lớn, chúng đều có chung một nguồn gốc là Coronavirus. Vì thế, ông đặt tên cho virus …

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH VIÊM MIỆNG MỤN NƯỚC TRÊN HEO – Swine Vesicular Stomatitis

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH VIÊM MIỆNG MỤN NƯỚC TRÊN HEO – Swine Vesicular Stomatitis

1. Nguyên nhân gây bệnh Virus gây bệnh là một ARN Rhabdovirus có tính dễ thích nghi và phát triển trong các tế bào nội bì niêm mạc miệng. Có 2 kháng nguyên phân biệt: New Jersey và Indiana, với 3 typ của Indiana: Fortlupton, Alaga (Brazin) và Coeal (Trinid). Chủng New Jerey là chủng có động lực mạnh nhất và là một trong những chủng phổ biến nhất. Virus này có sức đề kháng với tác động của môi trường kém hơn virus lở mồm long móng (LMLM), chúng dễ bị tiêu diệt khi đun sôi. Thuốc sát khuẩn tốt nhất là 2% của Iodin, 4-6% của Bestaquam-S,... Trâu bò, ngựa, lừa và heo mẫn cảm với virus, trong đó heo mẫn cảm ít hơn. Dê và cừu không mắc. Bệnh hay gặp ở trâu bò, ít gặp ở heo. Bê, nghé có sức đề kháng cao hơn so với trâu bò trưởng thành. Người cũng mắc bệnh. Ở những vùng dịch trâu, bò thấy người có hiệu giá kháng thể cao. Heo được gây bệnh thực nghiệm bằng cách tiêm huyễn dịch bệnh phẩm vào nội bì mõm và tiêm tĩnh mạch. Chuột lang có thể nhiễm khi tiêm nội bì gan bàn chân hoặc lưỡi. Thỏ …

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH MỤN NƯỚC TRÊN HEO – Swine Vesicular Disease

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH MỤN NƯỚC TRÊN HEO – Swine Vesicular Disease

1. Nguyên nhân gây bệnh Bệnh do Enterovirus gây ra, liên quan đến virus Coxsacki B5 ở người. Người ta đưa ra giả thuyết là bệnh có thể xảy ra do một biến chủng của virus này đã thích nghi đối với heo và gây bệnh cho heo. Tuy nhiên, những mẫu phân lập virus Coxsacki B5 ở người không gây ra bệnh ở heo, ngược lại virus gây mụn nước ở heo có thể gây bệnh cho người. Bệnh chỉ thấy ở heo và người. Về kháng nguyên và độc lực của virus, người ta đã chứng minh có sự khác nhau giữa các chủng phân lập virus từ các mụn nước ở heo giữa các nước khác nhau và đã thấy xuất hiện một số biến chủng và đến bây giờ vẫn còn tồn tại. Virus có kích thước lớn hơn virus gây bệnh lở mồm long móng (LMLM) (30-32nm so với 22 -25nm). Giữa hai loại virus này không có phản ứng chéo khi xét nghiệm kháng huyết thanh. Virus gây bệnh mụn nước heo có thể nuôi cấy trong các môi trường tế bào thận heo (dòng IB-RS-2), thận bê (dòng BHK-21), chúng tạo ra bệnh tích tế bào (CPE) điển hình. Đặc điểm bệnh tích tế bào …

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG – Foot and Mouth Disease

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG – Foot and Mouth Disease

1. Nguyên nhân gây bệnh Tác nhân gây bệnh là virus thuộc nhóm Enterovirus, họ Picornavirus. Nhóm virus này lại chia ra hai nhóm: Thuộc họ Picornaviridae, chúng gồm 4 giống: Enterovirus, Cardiovirus, Rhinovirus, Aphtovirus. Virus LMLM thuộc giống Aphtovirus. Ngày nay đã xác định có 7 typ virus gây bệnh LMLM là: O, A, C, SAT1, SAT2, SAT3, và ASIA1, mỗi một chủng lại có nhiều dưới chủng (subtype) trong đó typ O gây bệnh cho heo. Đến nay, các nhà khoa học đã xác định được hơn 60 serotyp huyết thanh, điều này có nghĩa là virus gây bệnh LMLM có sự thay đổi về đặc tinh cấu trúc kháng nguyên. Tất cả các typ virus LMLM đều gây bệnh với các triệu chứng lâm sàng giống nhau cho động vật móng guốc: Trâu, bò, dê cừu, heo nhưng lại không tạo miễn dịch chéo trên súc vật giữa các typ và subtyp. Tuy nhiên subtyp virus 01 vừa gây bệnh cho trâu bò lại vừa gây bệnh cho heo. Virus dễ dàng bị diệt ở nhiệt độ 60 - 70oC trong 5 - 10 phút. Virus được bảo tồn lâu trong điều kiện lạnh, ở nhiệt độ …

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH ĐẬU HEO – Swine pox

QUY TRÌNH XỬ LÝ BỆNH ĐẬU HEO – Swine pox

1. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây bệnh là một loại virus chứa AND cùng nhóm với virus gây bệnh đậu ở trâu, bò, dê, cừu, gia cầm và người. Tuy nhiên, virus gây bệnh đậu ở heo có cấu trúc kháng nguyên hoàn toàn khác với virus gây bệnh đậu ở các gia súc, gia cầm khác. Virus đậu heo phát triển được và tạo nên bệnh tích tế bào (CPE) chỉ trong môi trường nuôi cấy tế bào thận heo, tế bào não và phôi thai của heo. Chúng không thể phát triển được ở trong các môi trường nuôi cấy lấy từ thận, não, phổi của động vật khác. Đây chính là đặc điểm sinh học nổi bật để phân loại và giám đinh virus đậu heo. Virus đậu heo có kích thước trung bình 32´ Virus có sức sống kém trong các tổ chức hữu cơ thối rữa và ở nhiệt độ cao. Chúng chết khi đun sôi 2 - 3 phút, dễ bị tiêu diệt bởi 5% H2CO3, 10% nước vôi, 1‰ KMnO4. Tuy nhiên, trong môi trường chất lỏng hữu cơ, virus tồn tại và giữ nguyên đặc tính gây bệnh trong thời gian dài, nhất là khi ở nhiệt độ thấp. Dưới 10oC, virus sống hàng năm, khi được …