Nội dung
- 1. Nguyên nhân gây hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 2. Dịch tễ của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 3. Phương thức lây truyền hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 4. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 5. Bệnh tích của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 6. Chẩn đoán hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 7. Phòng hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
- 8. Điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ do virus gây ra là bệnh truyền nhiễm trên gà. Bệnh không gây chết nhưng làm giảm năng suất đẻ trứng và tổn hại buồng trứng của gà vĩnh viễn.
1. Nguyên nhân gây hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ (Egg Drop Syndrome – EDS) do virus thuộc nhóm Adenovirus gây bệnh ở gà.
Virus EDS tương đối bền với Chloroform, chịu được độ pH từ 3 – 10. Với nhiệt độ, virus bất hoạt sau 30 phút ở 600C, 3 giờ ở 560C. Tính gây bệnh của virus sẽ mất đi sau khi xử lý với Formaldehyde 0,5% và Glutaraldehyde 0,5%.
Loài mắc bệnh: Virus có thể gây bệnh cho tất cả các loại gia cầm, thủy cầm. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi từ gà con đến gà trưởng thành. Tuy nhiên, bệnh thường xảy ra ở gà đẻ công nghiệp (thương phẩm) và gà đẻ trứng giống trong giai đoạn từ 26 – 35 tuần tuổi, thời gian đẻ đỉnh của gia cầm.
2. Dịch tễ của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ năm 1976 (EDS 76) ở gà nhà (và đôi khi cả chim cút Nhật Bản và gà lôi) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976 và do một loại virus thuộc họ Adenoviridae gây ra. Virus EDS 76 lưu hành trong điều kiện phơi nhiễm tự nhiên, chủ yếu ở vịt và ngỗng nhà dưới dạng nhiễm trùng tiềm ẩn, nhưng không lưu hành tự nhiên ở các loài gia cầm khác. Vịt và ngỗng sống tự do thuộc một số chi và loài cũng có thể bị nhiễm trùng tiềm ẩn trong điều kiện tự nhiên (Kaleta và cộng sự, 2003).
3. Phương thức lây truyền hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Đường truyền lây: Bệnh lây truyền theo 2 con đường:
Lây truyền dọc: Bệnh lây từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng bị nhiễm mầm bệnh. Tuy số lượng trứng bị ảnh hưởng không nhiều nhưng đây là đường truyền lây nguy hiểm. Trong nhiều trường hợp, gà bị nhiễm virus từ trứng không bài thải virus cũng như không sản sinh kháng thể. Chỉ đến khi tỷ lệ đẻ trong đàn đạt trên 50%, giai đoạn virus bị tái kích hoạt, con vật bài thải virus làm bệnh lây lan nhanh trong đàn.
Lây truyền ngang: Bệnh lây từ gà bệnh sang gà khỏe qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, các chất thải từ gà bị nhiễm bệnh. Do vậy, sự lan truyền mầm bệnh giữa các gà trong kiểu nuôi chuồng lồng khá chậm vì được nuôi tách biệt. Núm uống, máng ăn, ô chuồng tương đối tách biệt. Mầm bệnh sẽ lây lan nhanh hơn đối với gà nuôi kiểu sàn.
Cơ chế sinh bệnh: Virus vào cơ thể gây nhiễm trùng huyết và nhân lên tại các mô lympho trên khắp cơ thể. Trong đó, vòi trứng và ống dẫn trứng cũng bị ảnh hưởng dẫn đến bị viêm nên quá trình hình thành vỏ trứng diễn ra không bình thường. Thời gian ủ bệnh từ 7 – 9 ngày có một số trường hợp gây bệnh sau 17 ngày bị nhiễm.
4. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ trên gà, thời gian nung bệnh từ 7-9 ngày, kéo tài từ 6-12 tuần và có những triệu chứng đặc trưng sau:
- Gà bị bệnh vẫn ăn uống bình thường hoặc giảm ăn. Một số trường hợp gà có hiện tượng tiêu chảy nhất thời, mào nhợt nhạt (chiếm khoảng 10-70%).
- Tỷ lệ đẻ trứng giảm đột ngột 20-40% (tương đương 12-16 trứng/gà), có khi lên tới 50%.
- Vỏ trứng bị mất màu, trứng nhỏ.
- Trứng nhỏ, vỏ mềm hoặc không có vỏ cứng, vỏ canxi bị biến dạng, hình dạng méo mó.
- Bề mặt vỏ trứng mỏng, xù xì, nhám, có nhiều hạt lắng đọng trên bề mặt vỏ.
- Lòng trắng loãng, tỷ lệ ấp nở giảm do chất lượng trứng bị ảnh hưởng.
![]() |
![]() |
![]() |
H1. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
5. Bệnh tích của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)

H2. Buồng trứng gà bị teo nhỏ
Hội chứng giảm đẻ trên gà thường tác động trực tiếp lên buồng trứng và ống dẫn trứng còn các bệnh tích khác thường không rõ ràng:
- Buồng trứng và ống dẫn trứng bị viêm, teo nhỏ.
- Trứng non không phát triển.
- Viêm tử cung, thủy thũng.
- Lách bị sưng to, tế bào trứng mềm nhũn, quan sát thấy nhiều giai đoạn phát triển của trứng trong xoang bụng.
6. Chẩn đoán hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Chẩn đoán lâm sàng: Hội chứng giảm đẻ ở gà có thể được chẩn đoán dựa vào hiện tượng giảm sản lượng trứng không đạt được như đã dự báo hoặc sản lượng trứng đột nhiên giảm, đặc biệt khi gà đang khỏe mạnh nhưng vỏ trứng bị thay đổi hoặc sức khỏe đàn gà giảm sút cùng với chất lượng vỏ trứng. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của bệnh rất dễ nhầm lẫn với bệnh khác.
Bên cạnh đó khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh đã gây ảnh hưởng đến năng suất đàn gà đẻ, ảnh hưởng đến kinh tế người nuôi. Cần tiến hành giám sát mầm bệnh lưu hành trong đàn trước giai đoạn gà đẻ trứng, từ đó có những biện pháp kịp thời điều trị bệnh.
Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Có nhiều phương pháp chẩn đoán, giám sát bệnh như: phản ứng HI, ELISA, iiPCR. Trong đó, kỹ thuật iiPCR đang được nhiều cơ sở thú y, trang trại lớn nhỏ lựa chọn.
7. Phòng hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Tiêm phòng cho đàn gà khi được 15-16 tuần tuổi bằng các loại vaccine theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Hiện có nhiều loại vaccine trên thị trường được sử dụng để phòng hội chứng giảm đẻ như: Nobilis G+ND+EDS, Nobilis IB+ND+EDS, Medivac ND – EDS Emulsion, Medivac ND – EDS – IB K, Cevac ND – IB – IBD – EDS, …
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
UMBROTOP: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng. Pha 1ml/5lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
UMBROCAL: Bổ sung hỗn hợp vitamin, khoáng đa, vi lượng, axit amin, giúp vật nuôi đẻ khoẻ, đẻ nhiều, trứng to, vỏ dày. Pha nước 1ml/1L nước, cho uống 2 ngày/tuần.
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt.
8. Điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hiện nay chưa có thuốc điều trị hội chứng giảm đẻ ở gà.
Khi gà bị bệnh, cần bổ sung thuốc bổ, vitamin, tăng hàm lượng canxi và protein trong khẩu phần cho gà đẻ, gà giống để tăng năng suất đẻ và tăng chất lượng trứng.






VIRUS
Vi khuẩn
PROTOZOA
KÝ SINH TRÙNG
NẤM
Chuồng trại
Giống
Dinh Dưỡng
Môi Trường
Nước Uống
Chăm Sóc

















































