góc nhìn

HÀ NAM: TIÊU HUỶ GẦN 3 TẤN THỊT LỢN DƯƠNG TÍNH VỚI VIRUS DỊCH TẢ LỢN CHÂU PHI

Đoàn kiểm tra Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Hà Nam vừa phối hợp với Phòng An ninh kinh tế, Công an tỉnh tiến hành kiểm tra đột xuất cơ sở giết mổ của ông Nguyễn Tiến Mạnh, Tổ dân phố Ninh Lão, phường Duy Minh, thị xã Duy Tiên. Tại thời điểm kiểm tra, trong khu vực nhốt có 21 con lợn (từ 50 đến 140 kg/con) đều có biểu hiện ho, khó thở, lờ đờ, chậm chạp, mũi khô. Kiểm tra khu vực giết mổ, có 5 con lợn đang được giết mổ và 3 con đang được chủ hộ mang ra chợ Duy Minh bán (đã bán số lượng ban đầu chưa xác định và giao nộp lại cho Đoàn kiểm tra khoảng 100 kg). Đoàn kiểm tra tiến hành lấy mẫu tại khu vực giết mổ và gửi Chi Cục Thú y vùng I, Cục Chăn nuôi và Thú Y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Kết quả các mẫu trên dương tính với virus dịch tả lợn châu Phi. Đoàn kiểm tra đã tạm giữ và tiêu huỷ gần 3 tấn thịt lợn dương tính với virus dịch tả lợn châu Phi của cơ sở giết mổ ông Nguyễn Tiến Mạnh. Lực lượng chức năng kiểm tra cơ sở giết mổ của ông Nguyễn Tiến Mạnh. Đoàn kiểm tra thu giữ và tiêu huỷ gần 3 tấn thịt lợn dương tích với virus dịch tả lợn châu Phi tại cơ sở giết mổ của ông Nguyễn Tiến Mạnh. Căn cứ các quy định của pháp luật về phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, Đoàn kiểm tra phối hợp với lực lượng chức năng và chủ hộ giết mổ lợn Nguyễn Tiến Mạnh tiến hành mở tem niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ và bàn giao toàn bộ tang vật vi phạm cho UBND phường Duy Minh, thị xã Duy Tiên để thực hiện các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo quy định. Vụ việc đã được Đoàn kiểm tra chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Hà Nam tiếp tục điều tra, làm rõ theo quy định của pháp luật.  Mai Hiền Nguồn: Báo Hà Nam

TIÊM PHÒNG VẮC XIN LỞ MỒM LONG MÓNG: “LÁ CHẮN” BẢO VỆ ĐÀN VẬT NUÔI

Hiện nay, thời tiết trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang vào giai đoạn chuyển mùa, nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh trên đàn trâu, bò rất lớn, nhất là bệnh lở mồm long móng (LMLM). Vì vậy, việc tiêm phòng vắc xin phòng bệnh nhằm tạo “lá chắn” bảo vệ đàn vật nuôi đang được các địa phương gấp rút triển khai. Khoảng 1 tuần qua, các hộ chăn nuôi tại làng Thung Dôr (xã An Phú, TP. Pleiku) phối hợp chặt chẽ với nhân viên thú y của xã và Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp TP. Pleiku tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh LMLM đợt 1-2025 trên đàn bò. Ông Yem phấn khởi cho hay: “Gia đình tôi nuôi bò từ nhiều năm nay. Những năm gần đây, bệnh LMLM thường xuất hiện vào mùa mưa nên gia đình luôn chú trọng đến việc phòng bệnh cho đàn bò. Vừa rồi, nhân viên thú y của thành phố và xã đến tiêm vắc xin phòng bệnh LMLM cho đàn bò. Việc tiêm vắc xin sẽ ngăn ngừa được bệnh, giảm thiệt hại về kinh tế”. Tương tự, chị H’My (cùng làng) chia sẻ: Lâu nay, gia đình chưa chú trọng đến việc tiêm vắc xin phòng bệnh định kỳ cho đàn bò. Vừa rồi được nhân viên thú y đến tiêm vắc xin LMLM và hướng dẫn cách chăm sóc, phòng bệnh cho bò, chúng tôi đã biết thêm nhiều kiến thức bổ ích. Hiện nay, gia đình đang tập trung trồng cỏ, mua rơm tích trữ thức ăn trong mùa mưa để giúp đàn bò nâng cao thể trạng, ngăn ngừa dịch bệnh. Nhân viên thú y Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Đak Đoa tiêm phòng vắc xin LMLM cho đàn bò của người dân tại xã Hà Bầu. Ảnh: N.H Thông tin từ Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Từ đầu năm đến nay, đàn gia súc của tỉnh phát triển ổn định. Tổng đàn trâu của tỉnh hiện có hơn 13.480 con, bò khoảng 494.376 con và heo khoảng 989.900 con. Hầu hết các loại bệnh truyền nhiễm như LMLM, dịch tả heo châu Phi, viêm da nổi cục và bệnh heo tai xanh đã được cơ quan chuyên môn các địa phương phát hiện, ngăn chặn kịp thời, không để lây lan trên diện rộng. Người chăn nuôi cũng đã chủ động tiêm các loại vắc xin phòng bệnh, góp phần hạn chế dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 865/QĐ-TTg về việc xuất cấp vắc xin LMLM từ nguồn dự trữ quốc gia cho các địa phương phòng bệnh LMLM; trong đó, Gia Lai được hỗ trợ 428.475 liều vắc xin type O để tiêm phòng cho đàn trâu, bò. Sau khi tiếp nhận, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phân bổ về 16/17 địa phương để triển khai kế hoạch tiêm phòng vắc xin LMLM đợt 1-2025 từ ngày 16-5 đến 25-6. Ông Trần Văn Đăng-Giám đốc Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp TP. Pleiku-thông tin: Sau khi tiếp nhận 2.300 liều vắc xin type O, Trung tâm đã triển khai tiêm phòng cho đàn trâu, bò trên địa bàn. Đến nay, hơn 1.900 liều đã được tiêm phòng cho đàn trâu, bò của 6 xã, phường; số vắc xin còn lại đang được các địa phương tiếp tục tiêm phòng đảm bảo theo kế hoạch nhằm hạn chế bệnh LMLM xuất hiện, gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Điều đáng mừng là hầu hết người chăn nuôi ở các xã, phường đã nhận thức được mức độ nguy hiểm của bệnh LMLM và chủ động phối hợp với lực lượng thú y, giữ gia súc tại nhà để tiêm phòng. Trao đổi với P.V, ông Thái Văn Dũng – Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh – cho hay: Với mục tiêu tạo hệ miễn dịch chủ động, đơn vị đã tham mưu xây dựng kế hoạch tiêm vắc xin 2 đợt/năm. Trong đó, đợt 1 thực hiện từ tháng 4 đến tháng 5 và đợt 2 vào dịp cuối năm. Thời gian qua, một số địa phương đã chủ động xuất ngân sách mua vắc xin LMLM về tiêm phòng cho đàn vật nuôi trên địa bàn. Bên cạnh đó, Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp các địa phương cũng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân, doanh nghiệp xã hội hóa trong việc mua vắc xin tiêm phòng bệnh LMLM, góp phần hạn chế dịch bệnh. Mới đây, Chính phủ đã hỗ trợ vắc xin LMLM type O để tiêm phòng cho đàn gia súc nhằm tạo “lá chắn” chủ động, ngăn chặn bệnh LMLM xuất hiện trong thời gian tới. “Gia Lai đang bước vào giai đoạn thời tiết giao mùa, môi trường chăn nuôi không đảm bảo, sức đề kháng của gia súc giảm chính là điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh trên đàn gia súc bùng phát, nhất là bệnh LMLM. Vì vậy, người chăn nuôi cần chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn tiêm phòng vắc xin phòng bệnh đúng thời điểm để bảo vệ đàn gia súc của gia đình không bị thiệt hại do bệnh LMLM gây ra”-Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh khuyến cáo. Nguyễn Hồng Nguồn: Báo Gia Lai

DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI TOÀN CẦU NĂM 2025

Mặc dù sản lượng thức ăn chăn nuôi (TĂCN) toàn cầu không tăng nhiều trong những năm gần đây, nhưng vẫn có kỳ vọng về sự tăng trưởng đáng kể về giá trị thị trường. Ngay cả những ước tính thấp nhất cũng chỉ ra rằng giá trị hiện tại của thị trường TĂCN toàn cầu đã vượt quá 400 tỷ USD và sẽ tăng hơn 4% trong những năm tới. 1. Dự kiến tăng trưởng thị trường Mặc dù sản lượng có biến động, giá trị của thị trường TĂCN toàn cầu vẫn tiếp tục tăng qua từng năm. Theo báo cáo gần đây của Polaris Market Research, giá trị của thị trường TĂCN toàn cầu sẽ đạt 588,50 tỷ USD vào năm 2025, tăng từ mức khoảng 564,78 tỷ USD vào năm 2024. Dự báo tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 4,3% cho đến năm 2034, công ty nghiên cứu dự báo thị trường sẽ đạt quy mô 859,62 tỷ USD vào năm 2034, cho thấy một con đường tăng trưởng mạnh mẽ. Báo cáo của Future Market Insights chỉ ra quy mô thị trường tương tự, nhưng đưa ra dự báo cao hơn cho tương lai. Trong báo cáo của mình, Future Market Insights đưa ra quy mô thị trường TĂCN toàn cầu là 530,0 tỷ USD vào năm 2023 và dự báo thị trường sẽ đạt 929,0 tỷ USD vào năm 2033. Theo báo cáo của Precedence Research, có dự báo thấp hơn một chút so với các công ty nghiên cứu trên, quy mô thị trường TĂCN toàn cầu là 448,61 tỷ USD vào năm 2023 và ước tính là 465,65 tỷ USD vào năm 2024. Công ty này cho rằng thị trường có thể đạt 705,15 tỷ USD vào năm 2034. Mordor Intelligence, chỉ ra sự gia tăng đáng kể với các số liệu mà họ báo cáo, nhưng đưa ra ước tính thấp hơn so với các công ty nghiên cứu khác. Theo báo cáo của công ty, thị trường TĂCN toàn cầu, sẽ đạt giá trị 483,69 tỷ USD vào năm 2025, sẽ tăng trưởng với tốc độ CAGR là 4,5% từ năm 2025-2030, đạt giá trị 602,76 tỷ USD. 2. Các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng thị trường Dân số toàn cầu và nhu cầu về protein động vật ngày càng tăng Dân số thế giới ngày càng tăng đòi hỏi phải tăng đáng kể sản lượng lương thực để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Ngoài ra, khi thu nhập khả dụng của người tiêu dùng ở các nước đang phát triển tăng lên, nhu cầu về protein động vật như thịt, sữa và trứng cũng tăng theo. Sự thay đổi này trong cả tăng trưởng dân số và sở thích ăn uống trực tiếp chuyển thành nhu cầu cao hơn về TĂCN. Phát triển công nghệ trong công thức thức ăn và sản xuất Những tiến bộ trong công thức thức ăn và khoa học dinh dưỡng đã cho phép tạo ra các loại thức ăn chuyên biệt cao phù hợp với nhu cầu cụ thể của các loài, giống và giai đoạn sống khác nhau của động vật. Phương pháp này, được gọi là dinh dưỡng chính xác, mang lại những lợi thế lớn về mặt tối đa hóa hiệu quả thức ăn và hiệu suất của động vật, đồng thời khuyến khích sử dụng thức ăn hỗn hợp tùy chỉnh. Tự động hóa trong quy trình sản xuất TĂCN cũng đang cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm chi phí lao động và tăng tính nhất quán trong chất lượng TĂCN. Các công nghệ xu hướng chính của những năm gần đây, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo (AI) và máy học, ngày càng được sử dụng để phân tích tốt hơn dữ liệu có sẵn, tối ưu hóa công thức thức ăn chăn nuôi cho phù hợp và cải thiện các hoạt động quản lý trang trại. Tập trung vào tính bền vững và các mối quan tâm về môi trường Ngành chăn nuôi đang phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng để giảm thiểu dấu chân môi trường của mình. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của các thành phần thức ăn bền vững hơn như các nguồn protein thay thế như côn trùng, tảo và protein từ thực vật. Mặt khác, việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế tuần hoàn, chẳng hạn như tái chế và tái sử dụng các sản phẩm phụ nông nghiệp làm thành phần thức ăn, cũng đang được chú ý bằng cách giảm chất thải và thúc đẩy hiệu quả sử dụng tài nguyên. Việc kết hợp thích hợp tất cả những điều này vào dinh dưỡng động vật là có thể với thức ăn hỗn hợp. Tầm quan trọng đối với sức khỏe và phúc lợi động vật Việc bổ sung prebiotic, probiotic và các thành phần chức năng khác vào TĂCN giúp cải thiện sức khỏe đường ruột, tăng cường chức năng miễn dịch và giảm sự phụ thuộc vào kháng sinh. Việc sử dụng thức ăn hỗn hợp chất lượng cao, cân bằng dinh dưỡng góp phần cải thiện sức khỏe, phúc lợi và năng suất chung của động vật. Hoạt động chăn nuôi tại các thị trường mới nổi Các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á – Thái Bình Dương, đang trải qua sự tăng trưởng nhanh chóng trong sản xuất, chăn nuôi. Các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ có ngành chăn nuôi lớn và đang phát triển, thúc đẩy nhu cầu về TĂCN Quy định và trợ cấp của Chính phủ Các chính sách của Chính phủ thúc đẩy sản xuất chăn nuôi bền vững, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển về dinh dưỡng động vật và khuyến khích áp dụng các phương pháp chăn nuôi sáng tạo cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng của thị trường. Tất cả những yếu tố này có nghĩa là nhu cầu về thức ăn hỗn hợp sẽ cao hơn, mang lại lợi thế đáng kể về sức khỏe, hiệu suất và phúc lợi của vật nuôi, đồng thời hỗ trợ sản xuất thực phẩm bền vững, góp phần thúc đẩy tăng trưởng thị trường. 3. Các yếu tố hạn chế sự tăng trưởng của thị trường Biến động giá nguyên liệu thô Giá các thành phần thức ăn chính như ngũ cốc (ngô, đậu nành), hạt có dầu và bột cá thường xuyên biến động đáng kể do các yếu tố như điều kiện thời tiết, sự kiện địa chính trị và động lực cung cầu toàn cầu. Những biến động này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà sản xuất thức ăn và nông dân, dẫn đến chi phí sản xuất cao hơn. Cạnh tranh về tài nguyên và mối quan tâm về môi trường Nhu cầu ngày càng tăng đối với đất canh tác và tài nguyên nước cho cả sản xuất thực phẩm và TĂCN đang tạo ra một môi trường cạnh tranh. Theo các chuyên gia, điều này có thể hạn chế tính sẵn có và khả năng chi trả của các thành phần TĂCN chính. Ngoài ra, việc sử dụng nhiều tài nguyên dẫn đến các mối quan tâm về môi trường như nạn phá rừng, ô nhiễm nước và phát thải khí nhà kính. Các biện pháp giải quyết những mối quan tâm này có thể làm tăng chi phí sản xuất và có khả năng hạn chế sự tăng trưởng của thị trường. Quy định nghiêm ngặt và các vấn đề tuân thủ Các quy định ngày càng nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, phúc lợi động vật và tính bền vững của môi trường có thể làm tăng chi phí sản xuất và gánh nặng tuân thủ đối với các nhà sản xuất TĂCN. Dịch bệnh và đại dịch Các dịch bệnh như cúm gia cầm và dịch tả lợn châu Phi có thể làm gián đoạn đáng kể sản xuất chăn nuôi, dẫn đến nhu cầu TĂCN giảm và gây thiệt hại kinh tế cho người nông dân. Các đợt bùng phát như vậy cũng có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên liệu TĂCN và thành phẩm, do đó ảnh hưởng đến tính khả dụng và khả năng chi trả của TĂCN. Suy thoái kinh tế Suy thoái kinh tế có thể dẫn đến việc người tiêu dùng giảm chi tiêu cho protein động vật, ảnh hưởng đến nhu cầu TĂCN và có khả năng làm chậm tăng trưởng thị trường. Cạnh tranh từ các nguồn protein thay thế Nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm thịt từ thực vật và sản xuất trong phòng thí nghiệm đặt ra thách thức cho thị trường TĂCN truyền thống. Khi người tiêu dùng chuyển sang các nguồn protein thay thế, nhu cầu đối với các sản phẩm động vật truyền thống và do đó là TAWCN có thể giảm. Thị trường mới nổi và môi trường cạnh tranh Sự xuất hiện của những công nghệ và đối thủ mới trên thị trường TĂCN có thể làm tăng tính cạnh tranh và tạo áp lực buộc những đối thủ hiện tại phải đổi mới và tăng năng suất.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến trả lời nguyên nhân giá lợn lên cao

Giá thịt lợn liên tục tăng nóng từ Tết nguyên đán đến nay chưa có dấu hiệt ‘hạ nhiệt’, Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng, đây là động lực để chúng ta tái cơ cấu lại ngành chăn nuôi. Giá liên tục tăng Ngày 3/3, tại khu vực miền Bắc ghi nhận giá thịt lợn hơi nhẹ, duy trì trong khoảng 72.000 – 75.000 đồng/kg. Trong khi đó, tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, ngưỡng 80.000 đồng/kg đã xuất hiện tại Lâm Đồng và Bình Thuận. Hiện tại, lợn hơi trên toàn vùng được thu mua trong khoảng 73.000 – 80.000 đồng/kg; Quảng Trị, Hà Tĩnh và Khánh Hòa là những tỉnh có giá lợn hơi thấp nhất khu vực. Thị trường lợn hơi tiếp tục lập đỉnh mới tại “thủ phủ chăn nuôi” Đồng Nai, lên mức 81.000 đồng/kg. Giá lợn hơi các tỉnh phía Nam hiện được giao dịch trong khoảng 77.000 – 81.000 đồng/kg. Nhìn chung cả nước, giá lợn hơi được bán ra trong khoảng 72.000 – 81.000 đồng/kg. Ông Nguyễn Kim Đoán – Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai – nhận định xu hướng tăng giá có thể còn tiếp diễn trong những ngày tới. Cũng trong ngày 3/3, Sở Tài chính TPHCM đã chính thức phê duyệt bảng giá thịt lợn bình ổn theo mức giá mới tăng ttừ 4 – 8,84%, tùy mặt hàng. Cụ thể, thịt cốt lết tăng 13.000 đồng/kg lên 160.000 đồng/kg; thịt đùi tăng 5.000 đồng/kg lên 130.000 đồng/kg; thịt nách, nạc, đùi có giá mới từ 156.000 – 177.000 đồng/kg…. Mức giá điều chỉnh dựa trên cơ sở giá heo hơi 74.000 đồng/kg. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến Nguyên nhân do đâu? Trao đổi với PV báo Tiền Phong, Thứ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Môi trường (NN&MT) Phùng Đức Tiến khẳng định, mặc dù giá thịt lợn hơi tăng cao nhưng chưa gây ra ảnh hưởng lớn. “Chúng ta có thể nhìn lại năm 2020 khi giá lợn hơi chạm đỉnh lịch sử là 105.000 đồng/kg, việc này dẫn đến chỉ số CPI của tháng 4/2020 lên tới 6,73%. So với hiện nay giá lợn hơi đang dao động tầm 80.000 đồng/kg, CPI tháng 1 chỉ có 3,68%, như vậy giá lợn tăng cao thời điểm hiện tại chưa gây ảnh hưởng lớn. Việc giá lợn hơi tăng cao, cũng là 1 trong những động lực để chúng ta tái cơ cấu lại ngành chăn nuôi, thay đổi lại công nghệ, thay đổi con giống, thay đổi quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, nâng cao được an toàn sinh học, an toàn thực phẩm để năng suất được cải thiện tốt hơn”, ông Tiến nhận định. Theo ông Tiến, tổng đàn lợn giảm khiến giá lợn hơi tăng cao nguyên nhân là do dịch tả lợn châu Phi hoành hành gây thiệt hại lớn, mặt khác ngành đã khắc phục được tình trạng nhập lậu động vật. Ông Tiến cho biết: “Hiện dịch tả lợn châu Phi vẫn xảy ra, việc tiêm vắc xin chưa được triển khai sâu rộng khiến cho tổng đàn lợn bị ảnh hưởng khá nghiêm trọng. Bên cạnh đó, thời gian vừa qua chúng ta tập trung chống buôn lậu, đặc biệt phối hợp với C05 thực hiện 11 vụ bắt giữ hình sự, đặc biệt có vụ bắt giữ các phương tiện vận chuyển động vật trái phép tại Tây Ninh với khối lượng rất lớn, bao gồm cả lợn và gia cầm”. Để ổn định giá thịt lợn, Bộ NN&MT đã đề nghị với các tỉnh cần bố trí ngân sách để tiến hành tiêm vắc xin phòng chống dịch tả lợn châu Phi đại trà. Ông Phùng Đức Tiến nhấn mạnh: “Thủ tướng Chính phủ đã có rất nhiều công điện chỉ đạo nhưng việc tiêm vắc xin ở các tỉnh chưa được triển khai sâu rộng. Minh chứng rất rõ ràng là các đàn lợn được tiêm vắc xin tại Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Cạn… đã giải quyết được vấn đề dịch bệnh lây lan. Điều đó cho thấy việc tiêm vắc xin là vấn đề quan trọng cần thực hiện. Tôi có thể khẳng định vắc xin là lá chắn thép. Việc chỉ đạo tiêm vắc xin ở các tỉnh cần được đảm bảo”. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tiến hành các biện pháp siết lại nhập khẩu các sản phẩm về lợn. Vì nhập khẩu ảnh hưởng lớn đến giá cả trong nước của toàn ngành chăn nuôi với quy mô chiếm tới 26 % toàn ngành nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy xuất khẩu, xuất khẩu năm 2024 chăn nuôi có 553,6 triệu USD, tăng 6,5% nhưng quy mô còn nhỏ cho nên cần phải thúc đẩy xuất khẩu. Đặc biệt, Bộ NN&MT đã chỉ đạo một số doanh nghiệp lớn về chế biến thịt lợn phải bước chân vào thị trường Hala. Ông Phùng Đức Tiến khẳng định Bộ NN&MT đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ổn định thị trường. Dự kiến, thời gian tới giá thịt lợn sẽ quay trở lại bình thường, đảm bảo ổn định đời sống người dân.

CÚM GIA CẦM H5N1 VÀ MỐI ĐE DỌA TOÀN CẦU

Cúm gia cầm H5N1 đang trở thành mối đe dọa chưa từng có, khi lan rộng giữa nhiều loài động vật và có nguy cơ cao đối với con người. Các chuyên gia cảnh báo rằng thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới, nơi các bệnh truyền nhiễm không chỉ bùng phát ở một loài mà còn có thể ảnh hưởng đến nhiều quần thể sinh vật khác nhau. Trong nhiều tháng qua, H5N1 đã xuất hiện trong các trang trại bò sữa, với hàng chục ca nhiễm được ghi nhận ở những người làm việc trong môi trường này. Hiện tại, virus này đã được phát hiện ở hơn 48 loài động vật có vú, từ gấu đến bò sữa và gây ra cái chết hàng loạt ở sư tử biển và hải cẩu voi con. Tuần trước, Mỹ ghi nhận ca tử vong đầu tiên do nhiễm H5N1. Nhân viên kiểm dịch khử trùng đồ bảo hộ sau khi tiêu hủy gia cầm nhiễm virus H5N1 tại Hluboka, CH Séc. Ảnh: AFP Khả năng lây lan rộng và gây tử vong ở nhiều loài khiến một số nhà khoa học gọi H5N1 là “panzootic” – một loại dịch bệnh có thể vượt qua rào cản loài và tác động nghiêm trọng đến nhiều hệ sinh thái. Khi môi trường sống bị thu hẹp, đa dạng sinh học suy giảm và ngành nông nghiệp thâm canh phát triển mạnh, điều kiện trở nên lý tưởng cho các bệnh truyền nhiễm lây lan từ loài này sang loài khác. Các chuyên gia nhận định đây có thể là một trong những thách thức quan trọng nhất đối với sức khỏe và an ninh toàn cầu trong thời đại hiện nay. Cúm gia cầm đã gây ra thiệt hại lớn đối với hệ sinh thái, đặc biệt là quần thể chim biển. Hàng triệu cá thể chim hoang dã đã bị tiêu diệt, hơn 20.000 sư tử biển Nam Mỹ chết tại Chile và Peru, trong khi tại Argentina, ước tính có tới 17.000 hải cẩu voi con tử vong, tương đương 96% số cá thể con được sinh ra trong năm 2023. Nguy cơ virus này lây lan giữa người với người hiện là mối quan tâm đặc biệt của giới y tế. Liên hợp quốc đã đưa ra cảnh báo sau khi một người đàn ông ở Louisiana tử vong sau khi tiếp xúc với gia cầm và chim hoang dã. Từ tháng 3/2024, Mỹ ghi nhận 66 ca nhiễm H5N1 ở người, nhưng hầu hết đều có triệu chứng nhẹ. Cho đến nay, chưa có bằng chứng về việc virus này lây từ người sang người, song đây là điều mà các chuyên gia luôn theo dõi sát sao. Ba phần tư các bệnh truyền nhiễm mới xuất hiện có nguồn gốc từ động vật. Việc theo dõi các chủng virus có khả năng lây lan giữa các loài đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe con người. Một số nhà khoa học cho rằng COVID-19 có thể là một dạng bệnh truyền nhiễm giữa các loài, do virus SARS-CoV-2 đã lây nhiễm cho hơn 58 loài động vật. Tuy nhiên, không giống cúm gia cầm, COVID-19 không gây tử vong hàng loạt ở động vật nên không hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của “panzootic”. Nguyên nhân chính khiến dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ hơn trong những năm gần đây được cho là do sự mở rộng hoạt động của con người vào các khu vực hoang dã. Mất đa dạng sinh học và sự suy giảm môi trường sống khiến các loài động vật phải sống gần con người hơn, làm tăng nguy cơ lây nhiễm chéo. Ngành chăn nuôi cũng góp phần đáng kể vào sự lan rộng của dịch bệnh khi số lượng động vật nuôi ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu lương thực. Nạn phá rừng và biến đổi khí hậu tiếp tục làm trầm trọng thêm vấn đề. Khi môi trường tự nhiên bị thu hẹp, động vật hoang dã bị dồn vào những không gian nhỏ hơn, làm gia tăng tiếp xúc với con người và vật nuôi. Đồng thời, nhiệt độ tăng lên cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các loài trung gian truyền bệnh như muỗi, ruồi và ve mở rộng phạm vi địa lý. Các nhà khoa học cảnh báo rằng tần suất các đợt bùng phát dịch bệnh, như H5N1 có khả năng tiếp tục gia tăng trong tương lai. Theo các chuyên gia, việc một loại virus mới xuất hiện với tiềm năng gây ra đại dịch toàn cầu chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên, nguy cơ này có thể được giảm thiểu thông qua các biện pháp như tăng cường giám sát dịch bệnh trên động vật, thúc đẩy phát triển vaccine từ giai đoạn sớm và áp dụng các phương thức canh tác bền vững để hạn chế sự tiếp xúc giữa con người và động vật hoang dã. Mặc dù rủi ro vẫn tồn tại, các chuyên gia tin rằng hiểu biết ngày càng rõ hơn về cách thức dịch bệnh lây lan giữa các loài sẽ giúp con người chủ động phòng ngừa và giảm thiểu tác động của các đại dịch trong tương lai.

CHĂN NUÔI GÀ THỊT: NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ CƠ HỘI

1. Ngành công nghiệp chăn nuôi gà thịt - Đặc điểm Ngành công nghiệp chăn nuôi gà thịt đang có những bước tiến rõ rệt với quy trình sản xuất khép kín, từ việc chọn giống đến nuôi dưỡng, chế biến và tiêu thụ. Áp dụng công nghệ hiện đại trong quá trình chăn nuôi giúp gia tăng hiệu suất và chất lượng sản phẩm. Có hai mô hình chăn nuôi phổ biến hiện nay: + Mô hình chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn. + Mô hình trang trại nhỏ lẻ. - Thách thức và cơ hội Ngành chăn nuôi gà thịt không tránh khỏi những thách thức lớn như vấn đề môi trường và dịch bệnh. Việc kiểm soát chất thải và giảm thiểu ô nhiễm môi trường là bài toán khó cho các trang trại lớn. Ngoài ra, dịch bệnh là mối đe dọa thường trực, đòi hỏi các cơ sở chăn nuôi phải tuân thủ chặt chẽ quy định về phòng chống dịch. - Bên cạnh đó, chính sách của nhà nước Nhà nước đã và đang có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích chăn nuôi gà quy mô lớn, áp dụng công nghệ cao nhằm tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. - Cơ hội từ thị trường xuất khẩu Thị trường xuất khẩu thịt gà vẫn đầy tiềm năng, đặc biệt khi nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm trên thế giới ngày càng gia tăng. Đối với những doanh nghiệp biết tận dụng cơ hội, việc nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ mang lại lợi nhuận lớn. 2. Cơ hội phát triển ngành chăn nuôi gà thịt - Xu hướng tiêu dùng Ngành chăn nuôi gà thịt đang chứng kiến nhiều cơ hội phát triển nhờ vào sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng. Nhu cầu về thực phẩm sạch và an toàn ngày càng gia tăng khi người tiêu dùng chú trọng đến sức khỏe. Sản phẩm từ gà, đặc biệt là các sản phẩm chế biến, đang trở thành lựa chọn hàng đầu cho bữa ăn nhanh gọn và giàu dinh dưỡng. - Ngoài ra, các loại thực phẩm tiện lợi, như gà chế biến sẵn hoặc đóng gói, cũng đang chiếm lĩnh thị trường do phù hợp với nhịp sống hiện đại. 3. Sản phẩm từ ngành chăn nuôi gà thịt - Sản phẩm sạch và an toàn:Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm chăn nuôi an toàn, không chứa chất cấm và được kiểm định nghiêm ngặt. Điều này tạo ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp đầu tư vào các mô hình chăn nuôi an toàn và bền vững, đồng thời cải thiện hình ảnh thương hiệu trên thị trường. - Sản phẩm chế biến từ gà:Các sản phẩm chế biến từ gà như xúc xích, gà rán, gà nướng ngày càng trở nên phổ biế Đây là phân khúc đầy tiềm năng, nhất là khi nhu cầu về thực phẩm tiện lợi và nhanh chóng tiếp tục tăng cao. 4. Ứng dụng công nghệ hiện tại vào quy trình chăn nuôi - Ứng dụng công nghệ sinh học:Công nghệ sinh học giúp cải thiện sức khỏe của đàn gà, tăng sức đề kháng và giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh. Những tiến bộ này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường về an toàn thực phẩm. - Tự động hóa trong chăn nuôi:Việc áp dụng các hệ thống tự động hóa trong khâu chăm sóc và quản lý đàn gà giúp giảm thiểu chi phí nhân công, đồng thời cải thiện điều kiện sống và tăng năng suấ Các thiết bị cảm biến thông minh giúp theo dõi sức khỏe, nhiệt độ, và môi trường sống của gà một cách tự động, tối ưu hóa quá trình chăm sóc. - Phân tích dữ liệu để nâng cao hiệu quả:Phân tích dữ liệu trong chăn nuôi cho phép các doanh nghiệp dự đoán xu hướng tiêu dùng, tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu rủi ro. Nhờ vào việc thu thập và phân tích dữ liệu, các mô hình chăn nuôi có thể được điều chỉnh phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường. 5. Các yếu tố cần quan tâm khi đầu tư vào chăn nuôi gà thịt Yếu tố 1: Vốn đầu tư - Để bắt đầu một mô hình chăn nuôi gà thịt, việc chuẩn bị nguồn vốn đầu tư là vô cùng quan trọng. - Có nhiều hạng mục chi phí cần xem xét, bao gồm chi phí xây dựng chuồng trại, mua giống, thức ăn, và thuốc thú y, cũng như chi phí nhân công. Các nhà đầu tư cần lập kế hoạch tài chính chi tiết để đảm bảo việc chăn nuôi diễn ra suôn sẻ và đạt hiệu quả cao. + Chi phí xây dựng chuồng trại: Xây dựng chuồng trại đạt chuẩn không chỉ đảm bảo môi trường sống lý tưởng cho đàn gà mà còn giúp tối ưu hóa quy trình quản lý và nuôi dưỡng. Chuồng trại cần có hệ thống thông gió, ánh sáng, và hệ thống quản lý chất thải phù hợp. + Chi phí mua giống, thức ăn và thuốc thú y: Giống gà, thức ăn và thuốc thú y chiếm một phần lớn trong vốn đầu tư ban đầu. Để đạt hiệu quả kinh tế, nhà đầu tư cần lựa chọn các loại giống tốt, chất lượng thức ăn cao và đảm bảo việc tiêm phòng bệnh đầy đủ. + Chi phí nhân công: Chăn nuôi gà thịt cần có đội ngũ nhân công chuyên nghiệp, có kinh nghiệm trong việc chăm sóc và quản lý đàn gà. Chi phí nhân công bao gồm lương và các chế độ phúc lợi, đồng thời cần dự toán nguồn lực phù hợp với quy mô trang trại. Yếu tố 2: Rủi ro Giống như bất kỳ ngành nghề nào, chăn nuôi gà thịt cũng đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn. Những rủi ro phổ biến có thể kể đến như bệnh dịch, giá cả thị trường biến động, và sự thay đổi trong chính sách của nhà nước. + Bệnh dịch: Bệnh dịch là mối lo ngại hàng đầu của các nhà chăn nuôi, đặc biệt là các loại dịch cúm gia cầm. Để hạn chế thiệt hại, các trang trại cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh, phòng dịch và tiêm phòng cho đàn gà. + Giá cả thị trường biến động: Bao gồm giá thức ăn chăn nuôi và giá bán sản phẩm, có thể thay đổi liên tục. Việc dự báo và quản lý rủi ro này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì lợi nhuận và khả năng cạnh tranh trên thị trường. + Chính sách thay đổi: Nhà nước có thể ban hành các chính sách mới ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi, chẳng hạn như quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm hoặc thuế suất. Nhà đầu tư cần nắm rõ và cập nhật thường xuyên các quy định pháp lý để tuân thủ và tránh rủi ro pháp lý. Yếu tố 3: Kiến thức và kỹ năng Ngoài vốn và quản lý rủi ro, kiến thức và kỹ năng về chăn nuôi gia cầm là yếu tố không thể thiếu để đảm bảo sự thành công trong ngành chăn nuôi gà thịt. Người chăn nuôi cần trang bị đầy đủ kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi và kỹ năng quản lý hiện đại. + Kiến thức về chăn nuôi gia cầm: Hiểu biết về quy trình chăn nuôi gà thịt, từ việc chọn giống, chăm sóc sức khỏe đến quản lý dinh dưỡng và môi trường sống, sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. + Kỹ năng quản lý: Quản lý trang trại chăn nuôi đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều yếu tố như nhân sự, tài chính, và sản xuất. Kỹ năng quản lý tốt giúp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và giảm thiểu các rủi ro tiềm ẩn. + Khả năng tiếp cận thông tin: Người chăn nuôi có khả năng tiếp cận thông tin về thị trường, chính sách và công nghệ mới để điều chỉnh kịp thời các chiến lược kinh doanh. Việc tham gia các khóa đào tạo, hội thảo và kết nối với chuyên gia sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường chăn nuôi.

TRONG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2024 THỊ TRƯỜNG NÀO CUNG CẤP NGÔ CHO VIỆT NAM NHIỀU NHẤT

Trong 9 tháng đầu năm 2024, Argentina là nhà cung cấp ngô lớn nhất cho Việt Nam, chiếm tới 57% tổng lượng và 56% tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước. Cụ thể, Việt Nam đã nhập khẩu từ Argentina gần 4,61 triệu tấn, với giá trị tương đương trên 1,11 tỷ USD. Giá trung bình của ngô nhập từ Argentina trong thời gian này là 240,9 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2023, lượng nhập khẩu tăng mạnh tới 89,4%, và kim ngạch tăng 48,3%, nhưng giá giảm khoảng 21,7%​ Brazil là thị trường cung cấp ngô lớn thứ hai cho Việt Nam trong 9 tháng năm 2024, chiếm khoảng 29% tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu. Việt Nam đã nhập khẩu từ Brazil hơn 2,35 triệu tấn, trị giá 584,73 triệu USD, với giá trung bình 248,7 USD/tấn. So với 9 tháng đầu năm 2023, lượng ngô nhập từ Brazil tăng 2,8%, nhưng giá trị kim ngạch lại giảm 18,5%, và giá giảm 20,8%. Ngoài Argentina và Brazil, Việt Nam cũng nhập khẩu ngô từ các thị trường khác như Thái Lan, Lào và Ấn Độ. Trong đó: + Lào cung cấp khoảng 74.664 tấn, trị giá 18,66 triệu USD, với giá trung bình 250 USD/tấn, tăng 22,4% về lượng so với năm trước, nhưng kim ngạch giảm 13% và giá giảm 29%​ + Thái Lan chỉ cung cấp khoảng 3.500 tấn ngô với giá trị 6,89 triệu USD, giảm hơn 30% về lượng và kim ngạch so với năm 2023​ + Ấn Độ có sự giảm mạnh nhất, chỉ cung cấp 2.574 tấn, với giá trị 6,8 triệu USD, giảm tới 99,7% về lượng và 98% về kim ngạch​. Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nhập khẩu ngô từ Argentina là do sự thay đổi trong nguồn cung và giá cả của các thị trường khác, đặc biệt là khi Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn ngô nhập khẩu để phục vụ cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Sự giảm giá ngô từ Argentina giúp giảm bớt chi phí sản xuất, mặc dù tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của Việt Nam có xu hướng giảm nhẹ do ảnh hưởng của giá giảm toàn cầu.

SẢN LƯỢNG THỊT LỢN CỦA EU ỔN ĐỊNH VÀO NĂM 2025

- Sản lượng thịt lợn tại EU dự kiến ​​sẽ giảm nhẹ 0,5% vào năm 2024 và 0,2% vào năm 2025. Dịch tả lợn châu Phi vẫn là rủi ro đối với sản xuất. Đến năm 2025, mức tiêu thụ bình quân đầu người của EU dự kiến ​​sẽ ổn định ở mức 30,9 kg trong khi giá thịt lợn EU kém cạnh tranh hơn khiến việc xuất khẩu sang thị trường toàn cầu trở thành một thách thức thực sự. - Đó là những kết luận của Ủy ban châu Âu trong triển vọng ngắn hạn mới nhất của thị trường nông sản. 'Sau khi trải qua những cú sốc nghiêm trọng và biến động cao trong những năm trước, thị trường nông sản EU đang cho thấy những dấu hiệu tích cực về sự ổn định khi chi phí đầu vào liên tục giảm trong những tháng qua và lạm phát lương thực đã trở lại mức vừa phải. Môi trường kinh tế vĩ mô và giá lương thực nói chung cho thấy nhu cầu đối với các sản phẩm nông-lương thực có thể cải thiện ở hầu hết các lĩnh vực. Tuy nhiên, triển vọng vẫn chịu mức độ không chắc chắn cao, liên quan đến các sự kiện thời tiết, xung đột địa chính trị và dịch bệnh động vật và thực vật', EC cho biết. 1. Tăng trưởng lớn nhất ở Ba Lan - Các chuyên gia tại Brussels dự kiến ​​27 quốc gia EU sẽ sản xuất 20,77 triệu tấn thịt lợn trong năm nay, giảm nửa phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong nửa đầu năm 2024, sản lượng thịt lợn của EU tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng lớn nhất được ghi nhận ở Ba Lan với 77.000 tấn (+9%), ở Hungary với 18.000 tấn (+8,3%) và ở Đức với 18.000 tấn (+0,9%). Sản lượng giảm ở Tây Ban Nha, nhà sản xuất thịt lợn hàng đầu châu Âu, 5.000 tấn (0,2%). Trong cùng kỳ, số lượng động vật bị giết mổ ở Đan Mạch ít hơn, nhưng trọng lượng thân thịt trung bình tăng (+17.000 tấn, +2,5% so với cùng kỳ năm trước). 2. Tiêu thụ ổn định - Tiêu thụ đã ổn định cho đến nay trong năm 2024, không có sự gia tăng thông thường trong những tháng mùa hè. Mức tiêu thụ bình quân đầu người của EU dự kiến ​​sẽ giảm thêm xuống còn 30,9 kg vào cuối năm (-0,4% so với cùng kỳ năm trước). Đối với năm 2025, mức tiêu thụ bình quân đầu người của EU dự kiến ​​sẽ ổn định ở mức 30,9 kg so với cùng kỳ năm trước. 3. Xuất khẩu thịt lợn - Xuất khẩu thịt lợn có thể đạt 2,93 triệu tấn vào năm 2024, giảm 2,5% so với năm 2023 với mức giảm khiêm tốn hơn nữa là 2,0% xuống còn 2,87 triệu tấn trong năm tới. EC cảnh báo rằng giá thịt lợn khiến xuất khẩu sang thị trường toàn cầu trở thành một thách thức thực sự. Trong nửa đầu năm 2024, xuất khẩu của EU ghi nhận mức giảm 6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là sang Trung Quốc (-27%). Ngoài ra, xuất khẩu sang Anh cũng giảm (3% so với cùng kỳ năm trước). - Cạnh tranh giá mạnh từ Brazil và Hoa Kỳ đã tạo ra thách thức cho xuất khẩu của EU sang một số thị trường giá trị cao như Nhật Bản hoặc Úc, mặc dù có sự gia tăng ở Hàn Quốc và các thị trường giá trị thấp hơn như Philippines và Việt Nam. Nếu khoảng cách giá giữa EU và các đối thủ cạnh tranh quốc tế tiếp tục giảm, điều này có thể thúc đẩy xuất khẩu của EU trên thị trường quốc tế. Với khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá từ Trung Quốc, xuất khẩu thịt lợn vào năm 2025 có thể tiếp tục giảm. 4.Nhập khẩu thịt lợn - Tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của EU là 53.711 tấn trong tháng 1-tháng 6 năm 2024 (+1% so với cùng kỳ năm trước). Lượng thịt lợn nhập khẩu từ Anh chiếm khoảng 2/3 tổng lượng thịt lợn nhập khẩu của EU và giảm 2,2% trong cùng kỳ. Cùng thời điểm, lượng thịt lợn nhập khẩu từ Chile tăng 8.600 tấn (+173%) do FTA mới giữa Chile và EU. Tuy nhiên, với kỳ vọng nhu cầu thịt lợn của Anh sẽ giảm vào năm 2025, lượng thịt lợn nhập khẩu của EU có thể giảm 2% vào năm 2025.

EUROTIER 2024: AI TRONG CHĂN NUÔI GIA CẦM

- EuroTier là hội chợ thương mại quốc tế hàng đầu về chăn nuôi gia cầm chuyên nghiệp và quản lý vật nuôi. Một lần nữa, “Triển lãm gia cầm thế giới” là một phần của sự kiện. Trong số những sự kiện khác, chủ đề nổi bật Trí tuệ nhân tạo “AI trong nhà nuôi gia cầm” sẽ trình bày các giải pháp cho nhà nuôi gia cầm. Ngoài ra, ngành gia cầm sẽ là trung tâm tại EuroTier với “Ngày gia cầm quốc tế”. - “Chúng tôi đổi mới chăn nuôi” là chủ đề chính củaEuroTier năm nay , hội chợ thương mại hàng đầu thế giới về chăn nuôi chuyên nghiệp và quản lý vật nuôi, diễn ra từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 11 năm 2024, được tổ chức tại Hanover, Đứ - Được tổ chức bởi DLG (Hiệp hội Nông nghiệp Đức), EuroTier sẽ một lần nữa trở thành địa điểm trung tâm cho các nông dân, nhà thầu, nhà phân phối và các chuyên gia khoa học và thực hành quốc tế. Các lĩnh vực trọng tâm bao gồm phúc lợi động vật, sức khỏe động vật, tính bền vững, giảm phát thải, chăn nuôi, quản lý chăn nuôi, thức ăn, số hóa, quản lý trang trại, chế biến và tiếp thị. Ngành công nghiệp gia cầm quốc tế sẽ tham gia Triển lãm Gia cầm Thế giới, một lần nữa được tổ chức tại EuroTier. 1. Triển lãm gia cầm thế giới trở lại EuroTier 2024 - Các hội nghị và sự kiện trong khuôn khổ Triển lãm gia cầm thế giới mang đến cho các chuyên gia gia cầm quốc tế nhiều cơ hội để giao lưu, trao đổi chuyên môn và thông tin. Các chủ đề chính sẽ là phúc lợi động vật và lượng khí thải CO2 trong gia cầm. - Chủ đề nổi bật Trí tuệ nhân tạo “AI trong chuồng gia cầm ” nhằm mục đích làm nổi bật các khả năng phát triển liên tục trong lĩnh vực tự động hóa và số hóa trong chăn nuôi gia cầm và minh họa chúng bằng các ví dụ. Tại khu vực đặc biệt, các công ty khởi nghiệp và công ty đã thành lập sẽ trình bày các giải pháp dựa trên AI của họ cho chăn nuôi gia cầm, từ xác định giới tính trong trứng đến phúc lợi động vật và theo dõi sức khỏ Các giải pháp thực tế để quản lý và công nghệ tại các trang trại chăn nuôi và ở các khu vực thượng nguồn sẽ cung cấp các ý tưởng để phát triển hơn nữa vì lợi ích của con người và động vật. Ngoài ra, Sân khấu chuyên gia “Gia cầm” sẽ cung cấp thông tin về các phát triển và đổi mới hiện tại trong các lĩnh vực chăn nuôi gia cầm, sức khỏe động vật, thức ăn, quản lý và tiếp thị. 2. Ngày Gia cầm Quốc tế 2024 – Gia cầm vì một hành tinh khỏe mạnh - Ngay cả trước khi hội chợ thương mại chính thức bắt đầu, ngành gia cầm sẽ trở thành tâm điểm tại EuroTier với “Ngày Gia cầm Quốc tế”. Sự kiện sẽ bắt đầu vào ngày 11 tháng 11 lúc 3.30 chiều với Hội nghị Gia cầm Quốc tế tại Trung tâm Hội nghị của khuôn viên triển lãm. - Với phương châm “Gia cầm vì một hành tinh khỏe mạnh”, các bài phát biểu quan trọng về chăn nuôi gia cầm bền vững sẽ chiếm vị trí trung tâm, bao gồm cả chủ đề về dấu chân carbon. Cuộc thảo luận nhóm tiếp theo sẽ tập trung vào triển vọng phát triển của ngành công nghiệp gia cầm quốc tế. Câu hỏi chính là: “Ngành công nghiệp gia cầm bền vững là gì?” Các diễn giả nổi tiếng và chuyên gia trong ngành sẽ làm sáng tỏ nhiều khía cạnh khác nhau của chủ đề này và nêu bật các giải pháp khả thi.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIA CẦM TOÀN CẦU VÀ XU HƯỚNG

Ngành gia cầm, có vị trí cực kỳ quan trọng về mặt an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, là phân ngành nông nghiệp phát triển nhanh nhất, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Người ta cho rằng các yếu tố như tăng trưởng dân số, tăng trưởng mức thu nhập và đô thị hóa sẽ góp phần vào sự tăng trưởng của ngành trong tương lai. Ngành gia cầm, có giá trị thị trường là 310,7 tỷ đô la vào năm 2020, dự kiến ​​sẽ tăng lên 322,55 tỷ đô la vào năm 2021 và ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 3,8%. Thị trường dự kiến ​​sẽ đạt 422,97 tỷ đô la vào năm 2025 với CAGR là 7%. - - Theo Derya Yıldız: Phân khúc quan trọng nhất của ngành chăn nuôi là ngành gia cầm. Bản thân ngành này đã cực kỳ phức tạp, ngành gia cầm bao gồm nhiều cấp độ sản xuất khác nhau, bao gồm nhà máy thức ăn chăn nuôi, trại giống, trang trại nhân giống và nhà máy chế biến. Tương tự như vậy, có các đơn vị phụ như gà, vịt, gà tây và ngỗng xét về loài trong ngành. Các phân nhóm sản xuất được chia thành sản xuất thịt và trứng. Sản xuất lông vũ cũng có thể được thêm vào đây. - Trong số các loài gia cầm, gà là loài được chăn nuôi chính trên toàn thế giới và theo ước tính, chiếm hơn 90 phần trăm trong ngành gia cầm. Các loài khác bao gồm vịt ở Châu Á, gà tây ở Bắc Mỹ, gà lôi ở Châu Phi và ngỗng cũng được biết đến là loài nổi trội sau gà. - Ngành gia cầm, có vị trí cực kỳ quan trọng về mặt an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, là phân ngành nông nghiệp phát triển nhanh nhất, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Người ta cho rằng các yếu tố như tăng trưởng dân số, tăng trưởng mức thu nhập và đô thị hóa sẽ góp phần vào sự phát triển của ngành trong tương lai. Mặc dù các trang trại nhỏ và doanh nghiệp gia đình trong ngành đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường, nhưng có vẻ như sự tăng trưởng chính sẽ là do các hoạt động quy mô lớn. - Mặc dù những diễn biến này góp phần vào động lực tăng trưởng của thị trường, một số vấn đề có tác động tiêu cực cũng nổi lên như những trở ngại đối với ngành. Một trong những vấn đề này là vai trò của gia cầm trong các bệnh truyền nhiễm. Bên cạnh đó, những rủi ro mà chúng gây ra cho sức khỏe con người do tình trạng kháng thuốc kháng sinh cũng được coi là một vấn đề đáng kể. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện về các lựa chọn sản xuất không có kháng sinh, đặc biệt là do vấn đề kháng thuốc kháng sinh, và các quốc gia đang cố gắng tạo ra động lực cho các nhà sản xuất về sản xuất không có kháng sinh với nhiều quy định khác nhau. SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIA CẦM - Theo dữ liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), tổng số gia cầm hiện diện trên thế giới (gà, vịt, ngỗng, gà lôi và gà tây) là khoảng 27,9 tỷ con vào năm 2019. Phần lớn nhất trong số này thuộc về gà, với khoảng 93 phần trăm. Theo FAO, số lượng gà trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990. Số lượng gà, là 14,38 tỷ con vào năm 2000, đã đạt 25,9 tỷ con vào năm 2019. Phần lớn nhất trong số này thuộc về các nước châu Á. Trong cùng kỳ, tổng số gà hiện diện ở châu Á là 15,8 tỷ con. Tiếp theo là châu Mỹ với 5,8 tỷ con. Số lượng gà hiện diện ở châu Phi và châu Âu là khoảng 2 tỷ con mỗi nơi. Các loại gia cầm khác có mặt trong năm 2019 như sau: vịt 1,2 tỷ con, ngỗng và gà lôi 362 triệu con, gà tây 428 triệu con.

TÌNH HÌNH XUẤT, NHẬP KHẨU THỊT VÀ CÁC SẢN PHẨM TỪ THỊT CỦA VIỆT NAM

1. Tình hình xuất khẩu Cơ cấu thị trường xuất khẩu thịt và sản phẩm từ thịt của Việt Nam (Tỷ trọng % tính theo giá trị)                                   Quý I/2023                                                                                              Quý I/2024 Trong quý I/2024, xuất khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2023. Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong quý I/2024, Việt Nam xuất khẩu được 5,34 nghìn tấn thịt và sản phẩm thịt, trị giá 23,67 triệu USD, giảm 8,3% về lượng và giảm 7,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các thị trường thuộc khu vực châu Á, trong đó xuất khẩu sang thị trường Hồng Kông là nhiều nhất, chiếm 47,79% về lượng và chiếm 66,19% về trị giá trong tổng xuất khẩu thịt và các sản phẩm thịt của cả nước, với 2,55 nghìn tấn, trị giá 15,66 triệu USD, giảm 0,5% về lượng và giảm 5,7% về trị giá so với quý I/2023. Trong quý I/2024, các chủng loại thịt và các sản phẩm từ thịt xuất khẩu chủ yếu gồm: Thịt lợn sữa nguyên con đông lạnh (được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông, Xing-ga-po); Thịt ếch đông lạnh (được xuất khẩu chủ yếu sang Bỉ, Pháp, Hoa Kỳ…); Chân gà đông lạnh (được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc, Pa-pu-a Niu Ghi-nê, Lào…); Thịt lợn nguyên con đông lạnh (được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Hồng Kông, Ma-lai-xi-a…); Thịt trâu, bò tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (được xuất khẩu sang thị trường Lào, Căm-pu-chia)… Đáng chú ý, trừ chân gà đông lạnh và thịt lợn nguyên con đông lạnh, xuất khẩu các chủng loại thịt và các sản phẩm từ thịt còn lại đều tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2023. 2. Tình hình nhập khẩu Nhập khẩu thịt và các sản phẩm từ thịt của Việt Nam trong quý I/2024 tăng so với cùng kỳ năm 2023. Theo thống kê sơ bộ từ số liệu của Tổng cục Hải quan, quý I/2024, Việt Nam nhập khẩu trên 171,54 nghìn tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá 345,36 triệu USD, tăng 34,4% về lượng và tăng 29,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Quý I/2024, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nga, Hàn Quốc và Ba Lan là 5 thị trường cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam. Trừ Hoa Kỳ, nhập khẩu thịt và các sản phẩm thịt của Việt Nam từ các thị trường này đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Ấn Độ là thị trường lớn nhất cung cấp thịt và sản phẩm từ thịt cho Việt Nam với 47,49 nghìn tấn, trị giá 148,01 triệu USD, tăng 31,7% về lượng và tăng 45,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Trong quý I/2024, thịt và các sản phẩm từ thịt nhập khẩu chủ yếu là các chủng loại như: Thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của gia cầm tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh; Phụ phẩm ăn được sau giết mổ của lợn, trâu, bò sống ướp lạnh hoặc đông lạnh; Thịt trâu tươi đông lạnh; Thịt lợn tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh; Thịt bò tươi ướp lạnh hoặc đông lạnh… Trong đó, nhập khẩu thịt gia cầm, thịt trâu, thịt bò có xu hướng tăng; trong khi nhập khẩu thịt lợn lại giảm so với cùng kỳ năm 2023. Quý I/2024, Việt Nam nhập khẩu 11,45 nghìn tấn thịt lợn (HS 0203), trị giá 25,98 triệu USD, giảm 12,5% về lượng và giảm 18,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Nhập khẩu thịt lợn liên tục giảm do tiêu thụ thịt lợn trong nước chậm, trong khi sản lượng lợn liên tục phục hồi. Bra-xin là thị trường lớn nhất cung cấp thịt lợn cho Việt Nam với 4,2 nghìn tấn, trị giá 9,53 triệu USD, tăng 7,4% về lượng và tăng 2,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023.  

CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU TÌM CÁCH KIỂM SOÁT AFLATOXIN TRONG NGÔ

Các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Arizona và các đồng nghiệp quốc tế đã trình diễn một kỹ thuật khử trùng đầy hứa hẹn sử dụng tia X để giảm khả năng sống của Aspergillus flavus trong ngô bị nhiễm bệnh.       Ngô thường bị nhiễm độc tố nấm aflatoxin B1, một chất gây ung thư cực mạnh do nấm Aspergillus flavus sản sinh ra. Tiếp xúc với aflatoxin gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho sức khỏe con người và các loài động vật khác, đồng thời đặt ra những thách thức kinh tế cho các ngành công nghiệp nông nghiệp. Tuy nhiên, do bản chất dễ lây truyền của nấm cùng với độc tính của độc tố, việc nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật kiểm soát trong môi trường phòng thí nghiệm có thể gặp khó khăn. Trongmột nghiên cứu mới  được công bố trên tạp chí Toxins, các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Arizona và các đồng nghiệp quốc tế của họ đã chứng minh một kỹ thuật khử trùng đầy hứa hẹn sử dụng chiếu xạ tia X để giảm khả năng sống của Aspergillus flavus trong ngô bị nhiễm bệ Phương pháp này đạt được hiệu quả khử trùng mà không làm phân hủy aflatoxin B1 (AFB1) có hại do nấm tạo ra. Bằng cách vô hiệu hóaAspergillus flavus, phương pháp này ngăn chặn nấm truyền bào tử và sản sinh thêm aflatoxin. Điều này rất quan trọng để cho phép nhiều phòng thí nghiệm tham gia cuộc chiến chống lại việc phòng ngừa và kiểm soát độc tố nấm. Việc ổn định mức độ độc tố cho phép các nhà khoa học phát triển và thử nghiệm các kỹ thuật khắc phục bổ sung nhắm mục tiêu vào quá trình phân hủy aflatoxin mà không gây biến chứng cho sự phát triển liên tục của nấm. Kết quả cho thấy một liều lượng nhỏ bức xạ đã ngăn chặn sự phát triển của nấm Aspergillus flavus . Công trình này là một phần trong nỗ lực lớn hơn của các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Arizona và các đối tác quốc tế, được Viện Y tế Quốc gia hỗ trợ, nhằm xác định các phương pháp tiếp cận chi phí thấp để giảm thiểu sự lây truyền và phơi nhiễm aflatoxin trong các cộng đồng thiểu số. Hannah Glesener, tác giả chính của nghiên cứu mới, cho biết: “Chúng ta đã biết về aflatoxin từ những năm 1960, nhưng nó vẫn là một vấn đề phổ biến”. “Việc chiếu tia X vào ngô bị ô nhiễm tự nhiên là một bước tiến thú vị hỗ trợ cho công trình nghiên cứu của nhóm nghiên cứu của chúng tôi trong việc phát triển các giải pháp cho những thách thức liên quan đến aflatoxin, chẳng hạn như tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính”. Glesener là trợ lý nghiên cứu sau đại học tại Trung tâm Thiết kế sinh học vì sức khỏe thông qua hệ vi sinh vật và là nghiên cứu sinh tiến sĩ về thiết kế sinh học tại Khoa Kỹ thuật Vật chất, Vận chuyển và Năng lượng của ASU. Nhóm nghiên cứu hiện đang đánh giá các chiến lược nấu ăn tại hộ gia đình để kiểm soát độc tố nấm này cũng như vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột của con người trong việc giải độc thực phẩm trước khi hấp thụ vào máu. Tổng quan nghiên cứu Mục tiêu chính của nghiên cứu, do tác giả liên hệ và Giáo sư nghiên cứu trợ lý Lee Voth-Gaeddert đứng đầu, là xác định liều chiếu xạ tối ưu cần thiết để loại bỏ khả năng sống của nấm trong khi vẫn bảo toàn nồng độ aflatoxin B1 cho các nghiên cứu giải độc tiếp theo. Những kết quả này mở ra những hướng đi mới để xử lý và nghiên cứu an toàn các sản phẩm thực phẩm bị ô nhiễm mà không làm ảnh hưởng đến các đặc tính cấu trúc và hóa học cần thiết cho phân tích khoa học. Nó có thể dẫn đến những cách tiếp cận mới cho các giải pháp có thể mở rộng và hiệu quả đối với tình trạng ô nhiễm mycotoxin áp dụng trên nhiều khu vực khác nhau, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nơi các biện pháp an toàn thực phẩm thường bị hạn chế.  

TÂN YÊN( BẮC GIANG): MỘT TRANG TRẠI THIỆT HẠI HÀNG TỶ ĐỒNG SAU BÃO

Dù đã chủ động các giải pháp phòng tránh ngập lụt sau bão số 3 nhưng do nước ở sông Sỏi dâng cao đã nhấn chìm gần như toàn bộ một trang trại chăn nuôi lợn ở thôn Đìa, xã Phúc Hòa (Tân Yên), gây thiệt hại hàng tỷ đồng. Trang trại chăn nuôi lợn này thuộc Công ty TNHH Dịch vụ chăn nuôi Hùng An, trụ sở tại tổ dân phố Phúc Lâm, phường Nếnh (thị xã Việt Yên), do ông Thân Văn Hùng (SN 1976) làm giám đốc. Cuối buổi chiều 14/9,tại trang trại chăn nuôi lợn ở thôn Đìa nước đã rút hơn một ngày và chủ trang trại huy động nhân lực cấp tập dọn dẹp nhưng mọi thứ vẫn vô cùng ngổn ngang, bừa bộ 20 lao động đang tất bật thu gom rác, các đồ vật vị vỡ hỏng, vệ sinh, phun khử khuẩn, dựng lại chuồng trại… Theo tổng hợp của chủ trang trại, tính đếnthời điểm hiện tại, 910 con lợn của trang trại đã chết do nước lũ, trong đó có 560 con lợn sữa dưới 28 ngày tuổi, 350 con lợn thịt… Cùng với vật nuôi, những tài sản khác tại trang trại như máy phát điện, quạt gió, hệ thống làm mát, cửa chắn côn trùng đều bị phá hủ Ước tính thiệt hại khoảng 3 tỷ đồng. Ông Hùng xót xa: “Tôi làm trang trại chăn nuôi cũng đã nhiều năm nay, nhưng chưa có một trận lũ nào lớn như thế này. Đây là lần thiệt hại nặng nhất của công ty. Thời điểm lũ dâng, trong trại có khoảng 700 con lợn nái, hơn 2 nghìn con lợn thịt và 1,2 nghìn con lợn sữa dưới 28 ngày tuổi. Nếu không có lực lượng chức năng, người dân hỗ trợ thì chúng tôi cũng không biết xoay xở ra sao và thiệt hại sẽ còn lớn hơn rất nhiều”. Trang trại ngổn ngang sau khi lũ rút. Trước đó, ngày 10/9, sau khi kiểm tra thấy lũ bắt đầu tràn vào trong nền, ông Hùng đã huy động tất cả nhân lực của trang trại với 4ô tô tải đến để di dời vật nuôi đến khu chăn nuôi an toàn của Công ty ở huyện Yên Thế và thị xã Việt Yê Nước lũ lên quá nhanh nên công nhân chỉ di chuyển được gần 200 con thì không thể tiếp cận vào trong. Để hỗ trợ trang trại di dời vật nuôi, chính quyền địa phương đã huy động gần 500 người gồm cán bộ, chiến sĩ Trường Cao đẳng Biên phòng 1, Ban Chỉ huy Quân sự huyện, lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, an ninh cơ sở, cán bộ, thanh niênxã cùng nhân dân thôn Đìa và các thôn lân cận tham gia. Trong 2 ngày, hơn 2 nghìn con lợn được đưa tới nơi an toà Số còn lại được kích lồng lên cao. Tuy nhiên, lũ dâng lên cách nóc chuồng chỉ tầm 50 – 70 cm, kéo dài hơn 2 ngày khiến nhiều vật nuôi không thể cứu được. Trang trại này có quy mô rộng khoảng 2 ha, với 4 dãy chuồng thường xuyên có khoảng 700 – 1 nghìn con lợn nái và 3 – 4 nghìn con lợn thị Công ty TNHH Dịch vụ chăn nuôi Hùng An là cơ sở liên kết sản xuất với doanh nghiệp Hàn Quốc, tạo việc làm cho khoảng 30 lao động. Lao động tại trang trại phun khử khuẩn sau khi lũ rút. Đểbảo đảm an toàn vệ sinh môi trường, ngay trong sáng 14/9, sau khi nước rút, phương tiện có thể di chuyển ra vào bãi chăn nuôi, chính quyền địa phương đã đến rà soát thiệt hại, tính toán phương án xử lý, huy động máy xúc, nhân lực hỗ trợ xử lý chôn lấp xác vật nuô Toàn bộ số lợn chết đã được chôn lấp, xử lý theo đúng quy trình tránh gây ô nhiễm đến môi trường xung quanh. Toàn bộ trang trại bị ngập sâu từ ngày 10 – 12/9.  

GIÁ HEO HƠI HÔM NAY:11/9/2024- THỊ TRƯỜNG CHỮNG LẠI

    Giá heo hơi hôm nay 11/9/2024 không có biến động mới. Hiện thị trường heo hơi ba miền đang giao dịch quanh ngưỡng giá 62.000 - 67.000 đồng/kg. 1. Giá heo hơi miền Bắc ngày 11/9. Thị trường heo hơi miền Bắc không có biến động mới so với hôm qua. Theo đó, Hà Nội vẫn giữ giá heo tại mức 67.000 đ/kg - cao nhất khu vực và cả nước. Ngược lại, thương lái tại Ninh Bình vẫn giao dịch tại giá 64.000 đ/kg - thấp nhất khu vực. Các địa phương còn lại giữ giá heo trong khoảng 65.000 - 66.000 đ/kg. Tỉnh/Thành Giá cả Tăng/giảm Bắc Giang 66.000 - Yên Bái 66.000 - Lào Cai 65.000 - Hưng Yên 66.000 - Nam Định 65.000 - Thái Nguyên 66.000 - Phú Thọ 66.000 - Thái Bình 66.000 - Hà Nam 65.000 - Vĩnh Phúc 66.000 - Hà Nội 67.000 - Ninh Bình 64.000 - Tuyên Quang 66.000 -    Như vậy, giá lợn hơi miền Bắc ngày 11/9/2024 đang giao dịch ở mức 64.000 - 67.000 đ/kg. 2. Giá heo hơi miền Trung và Tây Nguyên ngày 11/9 Thị trường heo hơi miền Trung và Tây Nguyên duy trì ổn định so với hôm qua. Cụ thể, giá heo cao nhất khu vực đang là 66.000 đ/kg, tiếp tục được thu mua tại Thanh Hóa. Ngoại trừ Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình vẫn giao dịch tại mức 64.000 đ/kg, giá heo tại các địa phương đang neo quanh ngưỡng 62.000 - 63.000 đ/kg. Tỉnh/Thành Giá cả Tăng/giảm Thanh Hóa 66.000 - Nghệ An 64.000 - Hà Tĩnh 64.000 - Quảng Bình 64.000 - Quảng Trị 63.000 - Thừa Thiên Huế 63.000 - Quảng Nam 63.000 - Quảng Ngãi 63.000 - Bình Định 62.000 - Khánh Hòa 62.000 - Lâm Đồng 63.000 - Đắk Lắk 62.000 - Ninh Thuận 62.000 - Bình Thuận 63.000 - Như vậy, giá lợn hơi miền Trung và Tây Nguyên ngày 11/9/2024 thu mua quanh mức 62.000 - 66.000 đ/kg. 3. Giá heo hơi tại miền Nam mới nhất ngày 11/9 Thị trường heo hơi miền Nam đồng loạt đi ngang so với hôm qua. Trong đó, giá heo tại Bình Dương và Cà Mau đang là 65.000 đ/kg - cao nhất khu vực. Các địa phương còn lại thu mua trong khoảng giá 62.000 - 64.000 đ/kg. Tỉnh/Thành Giá cả Tăng/giảm Bình Phước 62.000 - Đồng Nai 63.000 - TP.HCM 63.000 - Bình Dương 65.000 - Tây Ninh 63.000 - Bà Rịa - Vũng Tàu 64.000 - Long An 64.000 - Đồng Tháp 63.000 - An Giang 64.000 - Vĩnh Long 63.000 - Cần Thơ 64.000 - Kiên Giang 63.000 - Hậu Giang 63.000 - Cà Mau 65.000 - Tiền Giang 62.000 - Bạc Liêu 63.000 - Trà Vinh 62.000 - Bến Tre 63.000 - Sóc Trăng 63.000 - Như vậy, giá lợn hơi miền Nam ngày 11/9/2024 đang giao dịch trong khoảng 62.000 - 65.000 đ/kg. Phần lớn số lợn sữa nhập khẩu vào Hồng Kông đến từ Việt Nam. Theo Thương vụ Việt Nam tại Hồng Kông (Trung Quốc), thị trường này có nhu cầu lớn về nhập khẩu thực phẩm. Từ nhiều năm nay, Việt Nam luôn là quốc gia đứng thứ 6 mà Hồng Kông nhập khẩu thực phẩm, với kim ngạch nhập khẩu trung bình hàng năm khoảng hơn 400 triệu USD. Một số mặt hàng thực phẩm Việt Nam đang chiếm thị phần lớn về nhập khẩu của Hồng Kông như gạo (chiếm 27%), và đặc biệt là lợn sữa khi chiếm tới hơn 99%. Hay có thể nói, đại đa số lợn sữa nhập khẩu vào Hồng Kông đến từ Việt Nam. Lợn sữa cũng chính là sản phẩm chủ lực trong nhóm hàng thịt và sản phẩm thịt Việt Nam xuất khẩu sang Hồng Kông. Theo Tổng cục Hải quan, trong quý 2/2024, xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt của Việt Nam sang Hồng Kông đạt 2,57 nghìn tấn, trị giá 14,65 triệu USD, so với quý 2/2023 tăng 25% về lượng và tăng 16,6% về trị giá. Thịt và sản phẩm thịt xuất khẩu sang Hồng Kông chủ yếu là lợn sữa.  

HƠN 190.000 CON GIA CẦM BỊ CHẾT SAU BÃO SỐ 3

Đây là con số thống kê tạm thời tính đến ngày 09/9 của Bộ NN&PTNT về một số thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra tại một số địa phương của miền Bắc vừa qua. Chiều 09/9, Bộ NN&PTNT tổ chức cuộc họp thông tin về một số giải pháp trước mắt khắc phục sản xuất nông nghiệp cơn bão số 3. Theo số liệu được báo cáo tại cuộc họp, cơn bão số 3 đã làm cho 79 con gia súc, 190.131 con gia cầm bị chết (tập trung chủ yếu ở tỉnh Hải Dương với 186.000 gia cầm). Các địa phương vẫn đang tiếp tục rà soát, thống kê thiệt hại. Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến chủ trì cuộc họp chiều 09/9 tại Hà Nội. Đối với chăn nuôi, mặc dù thiệt hại không lớn, tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Long, Cục trưởng Cục Thú y, nguy cơ dịch bệnh vào dịp cuối năm thường rất lớn, cộng thêm bão lũ xảy ra vào đợt này khiến cho dịch bệnh phát sinh là rất cao. Do vậy, Cục Thú y đã chỉ đạo tăng hóa chất, sát trùng và vaccine phòng dịch bệnh. Đồng thời, trước nguy cơ dịch bệnh nguy hiểm trên gia súc, gia cầm phát sinh và lây lan sau mưa, lũ, Cục trưởng Cục Thú y đề nghị các địa phương sớm tổ chức thực hiện tổng vệ sinh, tiêu độc, khử trùng; Chủ động hướng dẫn người nuôi tiêm phòng đầy đủ các loại vaccine cho gia súc, gia cầm; Giám sát để phát hiện sớm, kịp thời xử lý trường hợp gia súc, gia cầm mắc bệnh, nghi mắc bệnh nguy hiểm… Bên cạnh đó, ông Long cho rằng cần thắt chặt quản lý không để xảy ra hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép gia súc, gia cầm từ nước ngoài vào Việt Nam khi nhu cầu trong nước đang tăng cao. Phát biểu chủ trì cuộc họp, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, sức tàn phá của bão số 3 rất lớn, hoàn lưu bão diễn biến còn rất phức tạp. Do đó, để đảm bảo hoàn thành mục tiêu tăng tốc của ngành nông nghiệp, duy trì đà tăng trưởng, xuất khẩu trên cơ sở đảm bảo sinh kế, lợi nhuận của người dân và đảm bảo đủ nguồn cung cho Tết Nguyên đán, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến yêu cầu các đơn vị phải khẩn trương vào cuộc quyết liệt. Trong đó, Cục Chăn nuôi, Cục Thú y tập trung tất cả các nguồn lực để kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm sau bão và tình trạng buôn lậu gia súc, gia cầm. Riêng với chăn nuôi, Thứ trưởng đặc biệt chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người nuôi tập trung cho tăng đàn, tái đàn, đảm bảo nguồn cung con giống, thức ăn dinh dưỡng và tuân thủ an toàn sinh học. “Từ đầu năm 2024 đến nay đã có những ổ dịch bệnh lở mồm long móng, tai xanh, viêm da nổi cục và đặc biệt là dịch tả heo châu Phi chưa chấm dứt, tỷ lệ tiêm phòng vaccine còn rất hạn chế. Do vậy, để đảm bảo đủ thực phẩm trước, trong và sau Tết thì công tác thú y, phòng bệnh phải hết sức quyết liệt, tích cực và phải bám sát thực tiễn, đặc biệt là sau mưa lũ. Bộ NN&PTNT cũng sẽ kêu gọi các doanh nghiệp, các tổ chức hỗ trợ kinh phí, thiết bị, công nghệ… để tái thiết sản xuất nông nghiệp sau bão”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh.  

GIÁO TRÌNH - BÀI GIẢNG

TIÊU DIỆT KÍ SINH TRÙNG TRÊN HEO

25 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Thiệt hại của kí sinh trùng gây...

Tiềm năng, lợi thế chăn nuôi bò thịt, bò sữa của Thủ đô

25 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Là Thủ đô song Hà Nội vẫn...

DINH DƯỠNG CHO NÁI HẬU BỊ THỜI KÌ MANG THAI

25 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Sự phát triển của heo con ở...

QUẢN LÝ DINH DƯỠNG TRƯỚC VÀ SAU CAI SỮA ĐỂ GIẢM CHI PHÍ CÁM

25 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Vấn đề của những nước chăn nuôi...

NHU CẦU VITAMIN CỦA GÀ

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Để nuôi gia cầm thành công, người...

NHU CẦU KHOÁNG CỦA GÀ

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Để nuôi gia cầm thành công, người...

BỆNH TRÚNG ĐỘC DO SULPHONAMID

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
1. Triệu chứng Gà trúng độc Sulphonamid...

BỆNH TRÚNG ĐỘC DO FURAZOLIDON

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
1. Triệu chứng Khi dùng Furazolidon phòng...

BỆNH NGỘ ĐỘC THỨC ĂN DO ĐỘC TỐ AFLATOXIN

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm

BỆNH TRÚNG ĐỘC DO MUỐI

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Muối là một trong những thành phần...

BỆNH TRÚNG ĐỘC DO SELENIUM (Se)

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Selen là một trong những nguyên tố...

BỆNH DO TRÚNG ĐỘC KHÍ NH3

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Khí NH3  được sinh ra từ chất...

BỆNH TRÚNG ĐỘC KHÍ CO

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Lượng khí CO được sinh ra do...

BỆNH TRÚNG ĐỘC DO FORMALDEHYDE

30 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Formaldehyde hay còn gọi là formon. Dung...

BỆNH SƯNG GAN THẬN TRÊN GÀ

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Bệnh sưng gan và thận thường xảy...

BỆNH HỘI CHỨNG XUẤT HUYẾT VÀ PHÌ GAN

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Bệnh FLHS là biểu hiện một quá...

BỆNH DO SUY DINH DƯỠNG TRÊN GIA CẦM

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu hụt dinh dưỡng gây rối...

BỆNH THIẾU VITAMIN A

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Đặc điểm của bệnh thiếu vitamin A...

BỆNH THIẾU VITAMIN D

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu vitamin D trong đàn gà...

BỆNH THIẾU VITAMIN E

31 Tháng Một, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu vitamin E thường hay gặp...

BỆNH THIẾU VITAMIN K

2 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu vitamin K ở gà có...

BỆNH THIẾU VITAMIN B1

2 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu vitamin B1 ở gà thể...

BỆNH THIẾU VITAMIN B2

2 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu vitamin B2 có đặc điểm...

BỆNH THIẾU VITAMIN B5

2 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu axit Pantothenic ở gia cầm...

BỆNH THIẾU AXIT NICOTINIC – VITAMIN B3

2 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu axit Pantothenic ở gia cầm...

BỆNH THIẾU PYRIDOXIN (VITAMIN B6)

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Đặc điểm của bệnh này là giảm...

BỆNH THIẾU BIOTIN (VITAMIN H)

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Gà mắc bệnh thiếu Biotin có đặc...

BỆNH THIẾU AXIT FOLIC

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Axit folic hay còn gọi là vitamin...

BỆNH THIẾU CHOLINE

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Chất Choline còn được gọi là vitamin...

BỆNH THIẾU VITAMIN B12

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Vitamin B12 cần thiết cho sự phát...

BỆNH THIẾU SELENIUM

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thiếu Selenium ở gà có đặc...

BỆNH THIẾU CANXI VÀ PHOTPHO (Ca, P)

3 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Canxi và photpho là 2 nguyên liệu...

BỆNH THIẾU MANGAN (Mn)

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Mangan được hấp thu qua đường tiêu...

BỆNH THIẾU MUỐI (NaCl)

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
NaCl là một loại muối bao gồm...

BỆNH THIẾU KẼM (Zn)

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Kẽm là một nguyên tố vi lượng...

BỆNH THIẾU (Mg)

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Mg trong cơ thể động vật chiếm...

BỆNH DO ĐÓI TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh đói ở gà thường thể hiện...

BỆNH DO MẤT NƯỚC TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Gà bị thiếu nước hay mất nước...

BỆNH DO LẠNH TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Gà bị lạnh với biểu hiện đứng...

BỆNH DO NÓNG TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Nhiệt độ quá nóng trong chuồng nuôi...

BỆNH DO TỔN THƯƠNG TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Đây là một bệnh nội ngoại khoa...

BỆNH THIẾU KALI TRÊN GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Kali trong cơ thể có tác dụng...

BỆNH VIÊM THẬN SỚM Ở GÀ

6 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh chỉ thấy xuất hiện ở gà...

BỆNH MỆT MỎI CỦA GÀ ĐẺ CÔNG NGHIỆP

7 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh CLF thường xảy ra ở gà...

BỆNH CÒI XƯƠNG

7 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Đây là bệnh thường phổ biến ở...

BỆNH MỀM ĐỐT SỐNG

7 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh thường thấy ở gà thịt giai...

BỆNH SỤN HOÁ XƯƠNG BÀN CHÂN

7 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh sụn hoá xương chày, xương bàn...

BỆNH GOUT

7 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Bệnh gout trên gà chia làm hai...

Kỹ thuật phòng và chữa bệnh cho vịt

12 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Sở hữu tổng đàn gia súc, gia...

LỰA CHỌN HỆ THỐNG CẤP NƯỚC CHO ĐÀN GÀ

12 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Ai cũng biết nước là nguồn dinh...

7 CÁCH GIÚP TĂNG LƯỢNG THỨC ĂN ĂN VÀO Ở HEO CAI SỮA

12 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Nếu lượng thức ăn ăn vào tăng...

ĐỘC TỐ NẤM MỐC: CÁNH CỬA CHO CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM.

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Ảnh hưởng trực tiếp của độc tố...

BỔ SUNG CHẤT ĐIỆN GIẢI CHO GÀ

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Không khí nóng gây thiệt hại rất...

CÁC BIỆN PHÁP GIÚP THỤ TINH NHÂN TẠO THÀNH CÔNG

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Thụ tinh nhân tạo có nhiều ưu...

QUẢN LÝ NÁI CAO SẢN

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Lý do khiến các trại tuy đã...

NUÔI DƯỠNG GÀ VÀO MÙA NÓNG

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Thông qua việc tạo và giải phóng...

VITAMIN VÀ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO

25 Tháng hai, 2022

Xem thêm
Một trong những yếu tố quan trọng...

BỆNH TGE TRÊN HEO – TRANSMISSBLE GASTROENTERITIS OF SWINE

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG – FOOT AND MOUTH DISEASE

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH MỤN NƯỚC TRÊN HEO – SWINE VESICULAR DISEASE

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH MỤN NƯỚC TRONG MIỆNG HEO – SWINE VESICULAR STOMATITIS

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH PED TRÊN HEO – PORCINE EPIDEMIC DIARRHAE

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH ĐẬU HEO – SWINE POX

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN TRÊN HEO – SWINE JAPANESE B ENCEPHALOMYETIS

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH VIÊM NÃO DO VIRUS NIPAH TRÊN HEO – NIPAH ENCEPHALITIS IN PIG

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

HỘI CHỨNG CÒI CỌC TRÊN HEO – POST WEANING MULTI SYSTEMIC WASTING SYNDROM

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH SẢY THAI DO PARVOVIRUS TRÊN HEO – PARVOVIRUS DISEASE OF SWINE

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH PPRS TRÊN HEO – PORCINE REPRODUCTIVE AND RESPYRATORY SYNDROME

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH GIẢ DẠI TRÊN HEO – AUJESZKY

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH CÚM HEO – HOG FLU

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH DỊCH TẢ CHÂU PHI – AFRICA SWINE FIVER

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH DỊCH TẢ HEO – HOG CHOLERA

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH SƯNG PHÙ ĐẦU TRÊN GÀ – AVIAN PNEUMOVIRUS (APV)

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

HỘI CHỨNG CÒI CỌC DO REOVIRUS – REO

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH CÚM GIA CẦM – AVIAN INFLUENZA (AI)

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH BẠI HUYẾT TRÊN VỊT – NGAN

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH KHẸC TRÊN VỊT – NGAN

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH HUYẾT TRÙNG TRÊN VỊT – NGAN

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH E. COLI TRÊN VỊT – NGAN

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm

BỆNH THƯƠNG HÀN TRÊN VỊT – NGAN

7 Tháng tư, 2022

Xem thêm