
Sinh sản

Hội chứng giảm đẻ do virus gây ra là bệnh truyền nhiễm trên gà. Bệnh không gây chết nhưng làm giảm năng suất đẻ trứng và tổn hại buồng trứng của gà vĩnh viễn.
1. Nguyên nhân gây hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ (Egg Drop Syndrome – EDS) do virus thuộc nhóm Adenovirus gây bệnh ở gà.
Virus EDS tương đối bền với Chloroform, chịu được độ pH từ 3 – 10. Với nhiệt độ, virus bất hoạt sau 30 phút ở 600C, 3 giờ ở 560C. Tính gây bệnh của virus sẽ mất đi sau khi xử lý với Formaldehyde 0,5% và Glutaraldehyde 0,5%.
Loài mắc bệnh: Virus có thể gây bệnh cho tất cả các loại gia cầm, thủy cầm. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi từ gà con đến gà trưởng thành. Tuy nhiên, bệnh thường xảy ra ở gà đẻ công nghiệp (thương phẩm) và gà đẻ trứng giống trong giai đoạn từ 26 – 35 tuần tuổi, thời gian đẻ đỉnh của gia cầm.
2. Dịch tễ của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ năm 1976 (EDS 76) ở gà nhà (và đôi khi cả chim cút Nhật Bản và gà lôi) được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976 và do một loại virus thuộc họ Adenoviridae gây ra. Virus EDS 76 lưu hành trong điều kiện phơi nhiễm tự nhiên, chủ yếu ở vịt và ngỗng nhà dưới dạng nhiễm trùng tiềm ẩn, nhưng không lưu hành tự nhiên ở các loài gia cầm khác. Vịt và ngỗng sống tự do thuộc một số chi và loài cũng có thể bị nhiễm trùng tiềm ẩn trong điều kiện tự nhiên (Kaleta và cộng sự, 2003).
3. Phương thức lây truyền hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Đường truyền lây: Bệnh lây truyền theo 2 con đường:
Lây truyền dọc: Bệnh lây từ đàn bố mẹ sang đàn con thông qua trứng bị nhiễm mầm bệnh. Tuy số lượng trứng bị ảnh hưởng không nhiều nhưng đây là đường truyền lây nguy hiểm. Trong nhiều trường hợp, gà bị nhiễm virus từ trứng không bài thải virus cũng như không sản sinh kháng thể. Chỉ đến khi tỷ lệ đẻ trong đàn đạt trên 50%, giai đoạn virus bị tái kích hoạt, con vật bài thải virus làm bệnh lây lan nhanh trong đàn.
Lây truyền ngang: Bệnh lây từ gà bệnh sang gà khỏe qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, các chất thải từ gà bị nhiễm bệnh. Do vậy, sự lan truyền mầm bệnh giữa các gà trong kiểu nuôi chuồng lồng khá chậm vì được nuôi tách biệt. Núm uống, máng ăn, ô chuồng tương đối tách biệt. Mầm bệnh sẽ lây lan nhanh hơn đối với gà nuôi kiểu sàn.
Cơ chế sinh bệnh: Virus vào cơ thể gây nhiễm trùng huyết và nhân lên tại các mô lympho trên khắp cơ thể. Trong đó, vòi trứng và ống dẫn trứng cũng bị ảnh hưởng dẫn đến bị viêm nên quá trình hình thành vỏ trứng diễn ra không bình thường. Thời gian ủ bệnh từ 7 – 9 ngày có một số trường hợp gây bệnh sau 17 ngày bị nhiễm.
4. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hội chứng giảm đẻ trên gà, thời gian nung bệnh từ 7-9 ngày, kéo tài từ 6-12 tuần và có những triệu chứng đặc trưng sau:
Gà bị bệnh vẫn ăn uống bình thường hoặc giảm ăn. Một số trường hợp gà có hiện tượng tiêu chảy nhất thời, mào nhợt nhạt (chiếm khoảng 10-70%).
Tỷ lệ đẻ trứng giảm đột ngột 20-40% (tương đương 12-16 trứng/gà), có khi lên tới 50%.
Vỏ trứng bị mất màu, trứng nhỏ.
Trứng nhỏ, vỏ mềm hoặc không có vỏ cứng, vỏ canxi bị biến dạng, hình dạng méo mó.
Bề mặt vỏ trứng mỏng, xù xì, nhám, có nhiều hạt lắng đọng trên bề mặt vỏ.
Lòng trắng loãng, tỷ lệ ấp nở giảm do chất lượng trứng bị ảnh hưởng.
H1. Triệu chứng của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
5. Bệnh tích của hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
H2. Buồng trứng gà bị teo nhỏ
Hội chứng giảm đẻ trên gà thường tác động trực tiếp lên buồng trứng và ống dẫn trứng còn các bệnh tích khác thường không rõ ràng:
Buồng trứng và ống dẫn trứng bị viêm, teo nhỏ.
Trứng non không phát triển.
Viêm tử cung, thủy thũng.
Lách bị sưng to, tế bào trứng mềm nhũn, quan sát thấy nhiều giai đoạn phát triển của trứng trong xoang bụng.
6. Chẩn đoán hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Chẩn đoán lâm sàng: Hội chứng giảm đẻ ở gà có thể được chẩn đoán dựa vào hiện tượng giảm sản lượng trứng không đạt được như đã dự báo hoặc sản lượng trứng đột nhiên giảm, đặc biệt khi gà đang khỏe mạnh nhưng vỏ trứng bị thay đổi hoặc sức khỏe đàn gà giảm sút cùng với chất lượng vỏ trứng. Tuy nhiên, các triệu chứng lâm sàng của bệnh rất dễ nhầm lẫn với bệnh khác.
Bên cạnh đó khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh đã gây ảnh hưởng đến năng suất đàn gà đẻ, ảnh hưởng đến kinh tế người nuôi. Cần tiến hành giám sát mầm bệnh lưu hành trong đàn trước giai đoạn gà đẻ trứng, từ đó có những biện pháp kịp thời điều trị bệnh.
Chẩn đoán phòng thí nghiệm: Có nhiều phương pháp chẩn đoán, giám sát bệnh như: phản ứng HI, ELISA, iiPCR. Trong đó, kỹ thuật iiPCR đang được nhiều cơ sở thú y, trang trại lớn nhỏ lựa chọn.
7. Phòng hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Tiêm phòng cho đàn gà khi được 15-16 tuần tuổi bằng các loại vaccine theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Hiện có nhiều loại vaccine trên thị trường được sử dụng để phòng hội chứng giảm đẻ như: Nobilis G+ND+EDS, Nobilis IB+ND+EDS, Medivac ND – EDS Emulsion, Medivac ND – EDS – IB K, Cevac ND – IB – IBD – EDS, …
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
UMBROTOP: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng. Pha 1ml/5lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
UMBROCAL: Bổ sung hỗn hợp vitamin, khoáng đa, vi lượng, axit amin, giúp vật nuôi đẻ khoẻ, đẻ nhiều, trứng to, vỏ dày. Pha nước 1ml/1L nước, cho uống 2 ngày/tuần.
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt.
8. Điều trị hội chứng giảm đẻ trên gà (EDS)
Hiện nay chưa có thuốc điều trị hội chứng giảm đẻ ở gà.
Khi gà bị bệnh, cần bổ sung thuốc bổ, vitamin, tăng hàm lượng canxi và protein trong khẩu phần cho gà đẻ, gà giống để tăng năng suất đẻ và tăng chất lượng trứng.

HEO NÁI SAU CAI SỮA BAO LÂU THÌ ĐỘNG DỤC TRỞ LẠI? NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC CHẬM LÊN GIỐNG
Heo nái sau cai sữa bao lâu thì động dục (heo lên giống) trở lại? Đây là câu hỏi mà nhiều người chăn nuôi thường quan tâm để giúp tối ưu năng suất sinh sản của heo nái, gia tăng hiệu quả kinh tế.
Thông thường, sau khi tách heo con, heo nái thường lên giống trở lại sau 3 đến 8 ngày. Tuy nhiên, thời gian này cũng phụ thuộc vào từng cá thể heo trong cùng một điều kiện chăm sóc.
Heo nái mới đẻ lứa đầu có thể sẽ cần thời gian lâu hơn so với heo nái đẻ nhiều lứa nhưng thông thường thời gian sẽ không quá 10 ngày. Nếu sau 10 ngày mà heo nái vẫn chưa có dấu hiệu lên giống thì có thể heo đang bị chậm, người nuôi cần xem xét các nguyên nhân và áp dụng biện pháp khắc phục để không làm gián đoạn chu kỳ sinh sản.
Dưới đây là các dấu hiệu nhận biết heo nái động dục (heo lên giống) mà bà con chăn nuôi cần lưu ý để phối giống đúng thời điểm, tăng tỷ lệ đậu thai:
1. Dấu hiệu nhận biết heo nái động dục (heo lên giống)
Thay đổi hành vi rõ rệt:
- Heo trở nên hiếu động hơn, kêu nhiều, đi lại liên tục trong chuồng.
- Có thể bỏ ăn hoặc ăn ít hơn so với bình thường.
- Có xu hướng leo lên lưng các heo khác hoặc chịu đứng yên khi bị leo lên (phản xạ đứng yên là dấu hiệu đặc trưng).
Âm hộ thay đổi
- Âm hộ sưng to, hồng đỏ rõ rệt.
- Tiết dịch nhầy trong suốt hoặc hơi đục, dính ở âm hộ hoặc nền chuồng.
- Khi chạm vào âm hộ, heo có phản ứng đứng yên, cong lưng hoặc co chân.
Biểu hiện khi thử đực
- Khi đưa đực vào gần, heo nái đứng im, cong lưng, tai vểnh lên, cho phép đực leo lên → Đây là thời điểm tốt để phối giống.
- Có thể thử bằng cách dùng tay nhấn nhẹ lên lưng, nếu heo đứng yên → đã lên giống.
>>> Tham khảo thêm sản phẩm: Xịt mùi heo đực – Phát hiện và kích thích heo nái lên giống
2. Nguyên nhân khiến heo nái chậm động dục (heo lên giống)
Có nhiều nguyên nhân khiến heo nái chậm động dục (lên giống) đúng thời gian sau khi tách con. có thể tham khảo một số nguyên nhân phổ biến thường gặp dưới đây.
Chế độ dinh dưỡng của heo không hợp lý: heo ăn phải thức ăn kém chất lượng, không đủ dinh dưỡng hoặc thừa quá nhiều chất, thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cho heo không cân đối, thức ăn ẩm mốc và có chứa độc tố… cũng sẽ gây ảnh hưởng tới thời gian lên giống ở heo.
Heo mắc các bệnh lý liên quan tới vấn đề sinh sản: heo bị viêm tử cung, mắc bệnh về đường sinh dục, bệnh tai xanh, u nang, bị tổn thương do lần sinh sản trước,... sẽ làm ảnh hưởng tới sự phân tiết hormone, suy giảm hệ miễn dịch làm heo bị lên giống chậm.
Môi trường sống không đảm bảo: Khi heo nái sống trong một môi trường có nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, không gian chật hẹp không có nơi cho heo vận động đi lại, ánh sáng không đủ hay người nuôi thay đổi môi trường sống quá đột ngột cho heo,... tất cả các yếu tố trên có thể khiến heo bị stress, làm giảm hormone sinh sản và tạo sự ảnh hưởng đến chu kỳ động dục ở heo.
Ảnh hưởng trong quá trình nuôi con: Heo nái cho con bú trong thời gian dài sẽ bị mất nhiều nguồn năng lượng (thông thường sau 3 đến 5 tuần thì người nuôi sẽ thực hiện cai sữa cho heo), khiến cho cơ thể của heo chậm phục hồi. Việc cai sữa không đúng cách hoặc tiến hành cai sữa muộn sẽ làm cho hormone sinh sản của heo nái bị ảnh hưởng và làm chậm quá trình lên giống ở heo.
Do lai tạo đồng huyết hoặc cận huyết khiến heo bị chậm sinh hoặc vô sinh. Bên cạnh đó, nếu trường hợp heo có thai có thể sẽ bị khó đẻ, thai yếu dễ bị sảy hay con sinh ra có thể bị dị tật…
3. Cách khắc phục tình trạng heo nái chậm lên giống
Cải thiện dinh dưỡng cho heo nái sau cai sữa
Bổ sung khẩu phần giàu năng lượng, đạm và vitamin sau khi tách con để giúp nái nhanh chóng hồi phục thể trạng.
Chú trọng bổ sung khoáng chất và vitamin thiết yếu như Vitamin A, D, E, B-complex, sắt, kẽm, selen... giúp kích thích buồng trứng hoạt động.
Có thể sử dụng thêm các chế phẩm hỗ trợ sinh sản như: premix khoáng-vitamin, thuốc bổ gan, bổ máu, tăng cường nội tiết tố (tùy theo chỉ dẫn thú y).
Quản lý tốt thời điểm và điều kiện cai sữa
Cai sữa đúng độ tuổi (thường 21–28 ngày), không nên cai quá sớm khiến nái suy kiệt.
Sau khi cai sữa, nên chuyển nái sang khu vực thoáng mát, yên tĩnh để giảm stress.
Giữ vệ sinh, khô ráo, tránh nóng bức hoặc lạnh đột ngột.
Tăng cường tiếp xúc với heo đực sau cai sữa
Đưa đực giống khoẻ mạnh đến gần heo nái hàng ngày từ 1–2 ngày sau cai sữa.
Cho tiếp xúc 2 lần/ngày, mỗi lần 15–30 phút để kích thích phản xạ động dục tự nhiên.
Có thể sử dụng MÙI HEO ĐỰC nếu không có đực thật.
Phát hiện và điều trị bệnh lý sớm
Theo dõi sát heo nái sau sinh và sau cai sữa. Nếu thấy dấu hiệu viêm âm hộ, dịch âm đạo bất thường, cần khám thú y sớm.
Sử dụng kháng sinh, thuốc tiêu viêm, bổ gan thải độc đúng phác đồ nếu nghi viêm tử cung hoặc rối loạn sinh sản.
Sử dụng thuốc hỗ trợ sinh sản (khi cần thiết)
Nếu heo nái vẫn không lên giống sau 7–10 ngày, có thể tiêm kích thích nội tiết tố theo hướng dẫn của bác sĩ thú y (ví dụ: PG600, FSH, HCG...).
Không tự ý dùng hormone nếu chưa xác định chính xác nguyên nhân.
Để giúp heo nái sau khi tách con lên giống nhanh và đúng thời hạn người chăn nuôi cần lưu ý một số cách khắc phục tình trạng heo chậm lên giống dưới đây:
Lưu ý quan trọng giúp heo nái duy trì năng suất sinh sản ổn định
Theo dõi sát biểu hiện động dục để phối giống kịp thời, tránh bỏ lỡ cơ hội thụ thai.
Không để heo nái quá béo hoặc quá gầy, vì cả hai tình trạng này đều làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Chăm sóc tốt giai đoạn mang thai và nuôi con, giúp heo nái phục hồi nhanh sau khi cai sữa.
Áp dụng kỹ thuật phối giống đúng cách để tăng tỷ lệ đậu thai và sinh sản hiệu quả.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ HEO NÁI HẬU BỊ MAU LÊN GIỐNG?
Làm thế nào để heo nái hậu bị mau lên giống chính là câu hỏi mà hầu hết người chăn nuôi đều băn khoăn vì heo hậu bị đóng vai trò vô cùng quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất chăn nuôi và hiệu quả kinh tế. Để giúp người chăn nuôi trả lời câu hỏi đó, Thú Y Toàn Cầu sẽ chia sẻ ngay trong nội dung bài viết hôm nay.
1. Heo nái hậu bị là gì?
Heo nái hậu bị chính là những chú heo cái được chọn làm giống ngay từ thời điểm cai sữa cho đến lúc phối giống lần đầu thông thường sẽ có độ tuổi từ 2 - 8 tháng tuổi.
2. Dấu hiệu heo nái chậm lên giống
Thông thường heo động dục ở khoảng thời gian từ 165 - 200 ngày tuổi khi khối lượng đạt 85 -100kg.
Nếu như heo đang ở độ tuổi 8 tháng và đạt trọng lượng từ khoảng 95 -120kg nhưng chưa lên giống thì được coi là chậm. Còn đối với heo nái sau khi cai sữa con thường sẽ có biểu hiện lên giống lại vào ngày thứ 4 - 7. Trong khoảng thời gian 10 ngày khi cai sữa heo con mà không thấy heo nái lên giống thì được coi là chậm.
3. Cách cho heo nái hậu bị nhanh lên giống nhanh nhất
Để giúp cho heo nái hậu bị nhanh lên giống nhất thì bà con có thể làm theo những cách dưới đây:
Cho vào chuồng: Cho heo hậu bị cần kích giống vào chuồng, nếu như trong chuồng có heo nái sẵn chúng ta nên cho heo tiếp xúc với phân, nước tiểu của nái cũ để thích ứng và thích nghi.
Ánh sáng: Bà con nên lưu ý về vấn đề ánh sáng, ánh sáng thích hợp nhất để heo nhanh lên giống là 16 tiếng chiếu sáng / ngày
Khẩu phần ăn: Cho lợn ăn 2.5 - 2.8kg/ ngày, ăn cám hậu bị, lưu ý heo quá béo hay quá gầy đều khó lên giống, người chăn nuôi nên tăng giảm khẩu phần ăn cho phù hợp
Chuồng nuôi: Về chuồng nuôi cũng cần lưu ý với mật độ từ 2.5-3m/con heo hậu bị, nếu như nuôi quá chật sẽ cắn nhau, còn nếu quá rộng sẽ dẫn tới tình trạng bị móng.
Độ dốc chuồng nuôi: Bà con đặc biệt cần phải lưu ý về độ dốc chuồng nuôi chỉ khoảng 1% bởi nếu như dốc quá sẽ dẫn tới heo bị ngã.
Nền chuồng nuôi: Bà con cũng lưu ý không nền để chuồng trại quá trơn bóng, dẫn tới tổn thương chân, móng. Nếu heo gặp các vấn đề chân móng thì tiến hành bổ sung các loại thuốc thú y tăng cường canxi, khoáng cho heo
Chuồng trại: Cần đảm bảo chuồng trại kín để tránh ruồi muỗi mang mầm bệnh vào chuồng cũng như đảm bảo tối đa độ thông thoáng, nên giữ gìn vệ sinh chuồng trại để heo đỡ viêm tử cung, viêm da.
Nhiệt độ: Nhiệt độ nóng quá hay lạnh quá cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn. Do đó nếu như thời tiết quá nắng nóng bà con nên tắm cho heo 2 lần / ngày. Còn nếu thời tiết lạnh bà con nên thắp bóng sưởi ấm.
4. Cách kích heo nái hậu bị khi không lên giống
Nếu như heo nái hậu bị không lên giống, bà con có thể tiến hành làm theo những cách dưới đây đảm bảo heo sẽ lên giống tầm 5-7 ngày hoặc chậm nhất là 8-9 ngày.
Nếu có heo nọc (heo đực), cho heo hậu bị vào tiếp xúc 15 phút. Nếu không có heo nọc, sử dụng sản phẩm MÙI HEO ĐỰC xịt vào mũi của heo, việc làm này sẽ giúp kích thích hormon sinh sản giúp heo nhanh lên giống.
Cắt cám trong 1 ngày từ 2 - 3 bữa tạo stress cho heo
Thả heo ra ngoài vườn để hấp thu vitamin A,D,E từ ánh nắng mặt trời, cho heo chạy nhảy tự do rồi tiến hành ép heo, quần heo….
Đối với chuồng trại kín chúng ta có thể đuổi lừa heo hậu bị chưa lên giống sau đó quần, ép heo
Cách ép heo: Để heo hậu bị tiếp xúc với heo nọc trong khoảng thời gian từ 1 phút đến 2 phút sau đó bà con có thể vào chuồng ép sau đó dùng 2 tay ấn lên lưng heo để heo chạy quanh chuồng trong khoảng thời gian từ 5-10 vòng.
Nếu làm tất cả những cách như trên mà heo vẫn không nên giống thì tiến hành loại thải.

BỆNH E.COLI TRÊN GÀ – ESCHERICHIA COLI INFECTION
Escherichia coli, hoặc E. coli phân bố ở gia cầm ở mọi lứa tuổi. Vi khuẩn Escherichia là "cư dân tự nhiên" trong ruột của gia cầm và hầu hết các động vật khác. Thông thường, nó được kiểm soát bởi các vi khuẩn khác trong ruột, nhưng nếu các khuẩn lạc lớn hình thành, nó có thể gây bệnh.
1. Nguyên nhân gây bệnh E.coli trên gà
Nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn gram âm Escherichia coli (viết tắt E.coli) gây bệnh cho các loài gia cầm nói chung và gà nói riêng.
Trên gà, E.coli gây nhiều bệnh khác nhau như viêm đường tiêu hóa (Colibacillosis), nhiễm trùng huyết (Colisepticemia), nhiễm trùng đường hô hấp và viêm túi khí, viêm màng bụng (Peritonitis), viêm vòi trứng (Salpingitis), viêm màng hoạt dịch, nhiễm trùng túi noãn hoàng ở gà con một ngày tuổi, viêm da…
E.coli còn được biết đến là một vi khuẩn cơ hội, gây bệnh kế phát khi gia cầm bị stress hay nhiễm những bệnh khác làm cho hệ miễn dịch suy yếu. Kế phát E.coli thường làm bệnh trầm trọng hơn nhiều và gây thiệt hại kinh tế lớn trong chăn nuôi gà công nghiệp.
[caption id="attachment_17577" align="aligncenter" width="1043"] Vi khuẩn gram âm Escherichia coli gây ra bệnh E.coli[/caption]
2. Dịch tễ của bệnh E.coli trên gà
Vi khuẩn E.coli thường trú trong đường tiêu hoá. Vi khuẩn có sẵn ở ngoài môi trường. Tuy nhiên chỉ có một số Serotype gây bệnh. Bệnh thường xảy ra ở giai đoạn gà con và hay nhiễm kế phát ngay sau bệnh CRD. Vì vậy có nhiều thể bệnh khác nhau. Tỷ lệ bệnh và chết phụ thuộc vào từng vùng, từng trại có biện pháp phòng và vệ sinh khác nhau.
3. Phương thức truyền lây bệnh E.coli
Truyền lây qua trứng do cơ thể mẹ bị nhiễm bệnh.
Truyền lây qua đường hô hấp do gà bị bệnh CRD làm cho niêm mạc phế quản bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập qua vết thương vào cơ thể.
Truyền lây qua vỏ trứng do bị nhiễm bẩn từ phân hoặc môi trường ở chuồng trại bị nhiễm trùng.
Lây qua thức ăn và nước uống bị nhiễm trùng.
4. Triệu chứng bệnh E.coli trên gà
Do con đường lây nhiễm khác nhau, vi khuẩn E.coli gây bệnh với các thể khác nhau như sau:
Thể viêm túi khí
Kế phát các bệnh đường hô hấp như CRD, tụ huyết trùng, viêm phế quản và khí quản truyền nhiễm. Vi khuẩn E.coli có thể bị hít vào trong những mô đã bị tổn thương của đường hô hấp.
Vi khuẩn phát triển rất nhanh trong cơ thể và định hướng vào các túi khí.Túi khí bị dày lên có màu trắng như bã đậu làm cho con vật khó thở.
Vi khuẩn có thể lây lan ra các cơ quan phủ tạng như tim, gan và các túi khí vùng bụng làm tăng sinh các màng bao tim, màng bao gan và màng phúc mạc. Kết quả làm cho tuần hoàn tim bị đình trệ, nhu động ruột bị giảm, tỷ lệ chết lên đến 8-10%.
Thể bại huyết
Do vi khuẩn xâm nhập vào máu quá nhiều, trong điều kiện sức khoẻ gà kém như khi vận chuyển, tiêm phòng, thức ăn thay đổi, giai đoạn đẻ cao và kế phát sau các bệnh hô hấp.
Triệu chứng mệt mỏi, không thích đi lại.
Chết đột ngột không rõ bệnh tích. Tỷ lệ chết nhanh này chiếm tỷ lệ từ 1-2%.
Bệnh tích chỉ rõ ở những con bị bệnh kéo dài từ 3-4 ngày trở đi: Màng tim, gan và xoang phúc mạc bị viêm dính vào tim, gan và ruột màu sắc trắng đục.
Thể viêm ruột
Bệnh thường nhiễm trùng kế phát sau các bệnh cầu trùng, viêm ruột hoại tử, ký sinh trùng hoặc trong các trường hợp bị suy dinh dưỡng và thiếu vitamin A làm cho các niêm mạc ruột bị tổn thương. Khi nhiễm bệnh gà thường bị tiêu chảy nặng, phân kcó dịch nhầy màu nâu, xanh, trắng.
Thể viêm vòi trứng
Do vi khuẩn xâm nhập cơ thể qua lỗ huyệt, qua nang trứng hoặc từ máu vào. Vi khuẩn gây viêm đường sinh dục. Vì vậy khi trứng đi qua sẽ bị nhiễm bệnh E.coli làm cho phôi chết trước khi nở ra, hoặc chết sau khi nở ra.
Gà mái đẻ giảm: trứng đôi khi có máu, hoặc gà chết đột ngột trong những giai đoạn đẻ cao.
Thể chết phôi
Nhiễm trùng E.coli là nguyên nhân gây hiện tượng chết phôi. Vi khuẩn có thể xâm nhập qua vỏ trứng vào phôi gây chết phôi.
Các thể khác
Gây viêm rốn: Rốn bị sưng đỏ do vi khuẩn nhiễm từ mẹ qua trứng vào phôi hoặc từ ngoài môi trường vào rốn.
Gây viêm khớp: Khớp sưng to, đỏ
5. Bệnh tích của bệnh E.coli
Gà con: Túi lòng đỏ có màu và mùi bất thường, rốn viêm, sưng. Viêm túi khí, có mủ vàng. Bệnh nặng, màng fibrin màu trắng hoặc vàng bao phủ đầy bao tim, gan, màng ruột, túi khí.
Gà đẻ: Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng, trứng trắng nhiều, vỏ mỏng dễ vỡ.
6. Chẩn đoán bệnh E.coli
Dựa trên triệu chứng lâm sang và bệnh tích sau khi khám mổ.
Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và phân lập vi khuẩn.
Cần phân biệt với các bệnh có triệu chứng lâm sang giống E.coli như bệnh bạch lỵ, bệnh thương hàn, bệnh phó thương hàn.
Cần phân biệt với bệnh có bệnh tích gần giống với E.coli như bệnh CRD.
7. Phòng bệnh E.coli trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Dùng kháng sinh
Dùng MOXCOLIS liều: 1g/10kg TT/ngày.
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
8. Điều trị bệnh E.coli trên gà
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Chống xuất huyết, cầm máu và tạo máu: Bằng SUPER K100 pha 1ml/1-2 lít nước uống, cho uống liên tục đến khi hết triệu chứng.
Giải độc gan – thận cấp: Bằng PRODUCTIVE HEPATO pha 1ml/1-2lít nước uống, dùng liên tục đến khi hồi phục hoàn toàn.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Dùng MOXCOLIS liều 1g/10kg TT/ngày. Kết hợp với LINCOVET GDH liều 1g/50kg TT/ngày. Uống liên tục 3-5 ngày
Bước 5: Tăng cường sức đề kháng
AMILYTE: Kích thích tăng trọng, bung lông bật cựa đỏ tích kích mào, nhanh đẻ, pha 1g/2lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp kích lườn, bung lông, bật cựa. Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT
CALPHO: Bổ sung Canxi và Phospho tạo khung xương, chống cắn mổ Pha nước 1ml/1-2lít hoặc 1ml/10kg P
VITROLYTE: Cung cấp năng lượng, điện giải và vitamin có hoạt tính cao cho gia súc, gia cầm: Giải nhiệt, giải độc, tăng lực, chống suy kiệt vào buổi trưa nóng.
Nếu bạn cần thêm thông tin và cần hỗ trợ, hãy liên hệ ngay với chúng tôi:
Hỗ trợ kỹ thuật gà:
0908 012 238
Email: thuytoancau.giacam@gmail.com
Hỗ trợ kỹ thuật heo:
0934 555 238
Email: thuytoancau.heo@gmail.com
Chăm sóc khách hàng:
0934 469 238
Email: thuytoancau.vn@gmail.com
Biên tập: Team Globalvet

BỆNH VIÊM VÚ DÊ
Sưng, đỏ, đau vùng bầu vú
Vú bị viêm sẽ thay đổi màu sắc từ màu hồng nhạt đến màu đỏ thẫm hoặc đen và bầu vú trở nên lạnh
Sữa ở vú mắc bệnh có màu sắc rất thay đổi: Nhợt nhạt, vàng thẫm, vàng nhạt có lẫn mủ hay máu, hoặc lợn cợn đông vón hay có lẫn các tổ chức bị hoại tử.
Tổ chức ở bầu vú có thể bị dày lên hoặc phù thủng tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh. Nhưng hầu hết các thể viêm vú thường kết hợp với nhau. Có trường hợp dê bị mắc bệnh nhưng không rõ các triệu chứng lâm sàng, dạng này thường làm giảm sản lượng sữa đến 25%.

CHU KỲ VÀ THỜI GIAN ĐỘNG DỤC CỦA CỪU
Chu kỳ động dục của cừu có liên quan đến giống, điều kiện sinh trưởng của từng cá thể, điều kiện cho ăn và quản lý và các yếu tố khác, nhưng vẫn có những quy tắc cần tuân theo. Tiếp theo, chúng ta hãy hiểu khi nào là chu kỳ động dục và thời gian của cừu, và biểu hiện của cừu trong động dục là gì .
Chu kỳ động dục của cừu kéo dài bao lâu
Chu kỳ động dục của cừu nói chung là 16~20 ngày, chu kỳ động dục của dê trung bình là 21 ngày (18~24 ngày) , thời gian động dục sau sinh trung bình là 30 ngày (20~40 ngày). Thời gian động dục: 24 đến 48 giờ đối với dê cái.
Khi nào là thời gian động dục của cừu
Thời gian động dục lần đầu của cừu cái thường từ 4 - 8 tháng tuổi , cừu đực có thể phối giống khi được 6 - 10 tháng tuổi, còn cơ thể trưởng thành phải từ 12 - 15 tháng tuổi thậm chí hơn. Điều này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, khí hậu và dinh dưỡng.
Về thời gian động dục của cừu cái thì giống sinh trưởng và phát triển nhanh thì sớm hơn giống sinh trưởng và phát triển chậm; cừu ở vùng ấm phía nam sớm hơn cừu ở vùng lạnh phía bắc; cừu có điều kiện chăn nuôi và quản lý tốt thì sớm hơn cừu có điều kiện nuôi dưỡng và quản lý kém.
Vì vậy, thời gian cừu non tham gia lần giao phối đầu tiên cũng khác nhau, thông thường khi thể trọng đạt hơn 65% so với thể trọng trưởng thành thì có thể phối giống. Điều đó có nghĩa là: cừu đực trên 12 tháng tuổi và cừu cái thích hợp hơn để giao phối lần đầu khi chúng được 8 đến 12 tháng tuổi .
Cừu ở động dục có những biểu hiện gì?
Khi động dục, cừu cái có biểu hiện chán ăn, quấy hót, bộ phận sinh dục sưng đỏ, có tiết dịch, thích lại gần cừu đực, chạy theo cừu đực và trèo lên cừu cái khác, cừu đực đứng yên khi đến gần, hai chân sau tách ra và chấp nhận giao phối.
Tuy nhiên, một số cừu cái (như cừu cái, cừu cái) triệu chứng động dục ít rõ ràng hơn, trại cừu nên bố trí người chuyên trách quan sát động dục, tiến hành quan sát và xác định động dục ít nhất mỗi ngày một lần vào buổi sáng và buổi chiều. để tránh bỏ sót và nhầm lẫn.
Biện pháp điều khiển động dục và tăng tỷ lệ sinh sản
(1) Kiểm soát động dục
Bằng cách kiểm soát động dục, thời kỳ động dục của đàn về cơ bản là nhất quán và những con cừu cái có thể được phối giống và sinh sản trong một thời gian định trước theo nhu cầu của chúng.
Cơ chế điều khiển động dục là sử dụng hoóc-môn hoặc thuốc giống như hoóc-môn để can thiệp vào quá trình sinh lý sinh sản của cừu cái, làm thay đổi tính chu kỳ động dục tự nhiên của chúng, làm cho tất cả những con cừu cái đã được xử lý thuốc tập trung động dục và động dục cùng một lúc. thời gian trong thời gian quy định.rụng trứng.
(2) Gây động dục
Trong thời kỳ động dục theo mùa của cừu cái, hormone ngoại sinh được sử dụng để gây động dục bình thường ở cừu cái. Điều này rút ngắn chu kỳ sinh sản. Có thể cừu 2 lần trong một năm, hoặc 3 lần trong 2 năm.
(3) Kích hoạt chức năng tình dục của cừu đực
Khi một số cừu đực đến tuổi trưởng thành về mặt sinh dục, ngay cả khi cơ thể đã trưởng thành, chức năng sinh dục vẫn không bình thường.
Để kích hoạt chức năng sinh dục của những con cừu đực này, cần thực hiện chăn thả và cho cừu ăn hợp lý, nhất là khẩu phần thức ăn phù hợp với tiêu chuẩn dinh dưỡng, thực hiện vận động hợp lý.
Sử dụng liệu pháp hormone ngoại sinh để tăng nồng độ testosterone trong máu cũng có thể đóng vai trò kích hoạt chức năng tình dục.

BỆNH TỬ CUNG LỘN BÍT TẤT TRÊN BÒ (SA TỬ CUNG)
Các trường hợp tử cung lộn bít tất trên bò có thể xuất hiện nhiều dạng khác nhau.
Trường hợp âm đạo lộn ra ngoài thể không hoàn toàn: khi mới xuất hiện, bộ phận âm đạo lộn ra ngoài có màu đỏ to, kích thước bằng nắm tay hoặc lớn hơn một ít. Bộ phận này chỉ nhìn thấy khi gia súc nằm xuống, khi gia súc đứng dậy thì bộ phận đó lại tụt và trong xoang chậu.
Trường hợp bệnh tiếp tục phát triển thì bộ phận âm đạo lộn ra ngoài sẽ to dần lên, lúc này khi con vật đứng dậy bộ phận âm đạo cũng không tụt vào trong ở dưới thành âm đạo mà còn lộ cả ống dẫn niệu và một phần của bàng quang.
Trường hợp một phần đầu mút sừng tử cung bên có thai bị lộn vào trong xoang tử cung và lồng vào nhau thì con vật hầu như không có triệu chứng trong quá trình hồi phục, tử cung sẽ trở lại bình thường.
Trường hợp cả hai sừng tử cung và cả thân tử cung bị lộn trái lồng qua tử cung vào âm đạo, con vật xuất hiện triệu chứng cục bộ và toàn thân. Thành bụng co bóp, con vật cong lưng, cong đuôi rặn.Trong khi rặn con vật thải ra một ít phân, nước tiểu, biểu hiện đau đớn, khó chịu. Trâu bò giảm ăn, thậm chí bỏ ăn. Kiểm tra qua đường sinh dục phát hiện đầu mút sừng tử cung lồng vào thân tử cung hay toàn bộ tử cung lồng vào âm đạo.
Trường hợp toàn bộ âm đạo bị lộn ra ngoài, tử cung lộn bít tất, phần bộc lộ ra ngoài có màu hồng. Lúc đầu chỉ âm đạo và tử cung bên có thai lộn ra ngoài, về sau cả hai sừng, thân tử cung đề bộc lộ ra ngoài. Trên niêm mạc tử cung còn dính lại một số núm nhau con và nhiều núm nhau mẹ. Gia súc đau đớn, đứng lên nằm xuống liên tục, tử cung bị tổn thương, sây sát, xuất huyết và nhiễm khuẩn.
Trâu bò chết sau 5 - 6 ngày

NƯỚC GIÚP NÂNG CAO NĂNG SUẤT SINH SẢN
Nước không chỉ giúp duy trì sự sống cho động vật mà còn đảm nhiệm những chức năng dưới đây:
- Vận chuyển tiêu hóa, hấp thu chất dinh dưỡng.
- Điều chỉnh thân nhiệt.
- Loại bỏ các chất thải.
- Là thành phần cần thiết có trong máu và cơ quan trong cơ thể.
Gà thường uống lượng nước gấp hai lần lượng cám ăn vào. Chiếm 70% trọng lượng cơ thể gà là nước, ở giai đoạn mới ấp nở thì tỷ lệ này chiếm tới 85%. Nếu lượng nước uống vào giảm hoặc cơ thể gà mất nhiều nước thì sẽ ảnh hưởng nhiều tới năng suất sinh sản.
Nước sẽ giúp duy trì sức khỏe cho gà, phát huy đầy đủ các chức năng trong cơ thể. Để gà đạt năng suất cao nhất ta cần cung cấp đầy đủ nước sạch cho chúng.
Để phòng chống việc mất nước ta phải cân bằng lượng nước uống vào và mất đi. Lượng nước gà mất đi có thể qua đường hô hấp, bay hơi, qua phân và nước tiểu. Lượng nước thải qua phân chiếm khoảng 20 – 30% lượng nước gà uống vào, đa số lượng nước sẽ thải qua đường nước tiểu. Lượng nước mất đi sẽ phụ thuộc nhiệt độ và độ ẩm của môi trường nuôi dưỡng.
Những yếu tố ảnh hưởng tới lượng nước uống vào của gà
Ngày tuổi: lượng cám và nước gà sử dụng có liên quan mật thiết tới ngày tuổi. Gà càng lớn thì lượng nước uống vào càng nhiều.
Giới tính: giới tính cũng sẽ gây ảnh hưởng tới lượng nước gà uống vào. Từ tuần tuổi đầu tiên thì gà trống sẽ uống nhiều hơn gà mái. Lý do là mỡ trong gà mái nhiều hơn so với gà trống (so với mỡ thì chất đạm chứa nhiều nước hơn).
Nhiệt độ môi trường nuôi: nhiệt độ môi trường nuôi cũng ảnh hưởng đến lượng nước uống vào. Lượng nước uống thường gấp 2 lần lượng cám (1,8:1; nhiệt độ 210C). Tuy nhiên, nếu gà bị stress nhiệt thì lượng nước uống vào sẽ tăng. Nếu tăng mỗi 1 độ C từ 210C thì lượng nước uống vào sẽ tăng 6 – 7% (NRC, 1994). Cần lắp thiết bị đo lượng nước uống nhằm kiểm tra lượng nước gà sử dụng hằng ngày.
Nhiệt độ nước: ngoại trừ khi thực hiện vắc-xin thì các trại thường không quan tâm tới nhiệt độ nước uống. Nhiệt độ nước trong bồn có khuynh hướng tương tự như nhiệt độ môi trường nuôi dưỡng. Cần kiểm tra định kỳ nhiệt độ nước uống của gà. Nếu nhiệt độ nước trên 240C thì vào những ngày nóng phải nghiên cứu các biện pháp giúp hạ nhiệt độ nước. Tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào bồn chứa. Bọc các vật liệu cách nhiệt hoặc che màn chống nắng cho hệ thống ống nước.
Hệ thống núm uống: độ cao núm uống cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới lượng nước gà uống. Cần kiểm tra định kỳ áp lực nước của núm uống có phù hợp với tiêu chuẩn nhà sản xuất không (áp lực nước phù hợp là 60 ml/phút).
Hình 1: Điều chỉnh độ cao núm uống cho phù hợp.
Thức ăn: để đẩy mạnh quá trình bài tiết khoáng chất ở thận thì gà sẽ tăng lượng nước uống vào. Nếu sử dụng cám có lượng protein cao nhưng gà không tổng hợp hết thì chúng sẽ tăng lượng nước uống vào để thải ra ngoài.
Chất lượng nước: nước cho gà phải duy trì độ sạch, tiêu chuẩn khoáng chất phải nằm ở mức cho phép.
Kết luận:
Duy trì nhiệt độ nước uống thích hợp (10 – 120C).
Lắp đầy đủ núm uống với độ cao và áp lực nước phù hợ
Kiểm tra lượng nước gà uống hằng ngày và so sánh với lượng cám ăn và Khi nhiệt độ chuồng trại tăng phải tăng lượng nước uống (từ 210C nếu tăng mỗi 1 độ thì lượng nước uống phải tăng 6,5%).
Áp dụng các biện pháp duy trì nhiệt độ phù hợp cho lượng nước uống.
Định kỳ kiểm tra nhiệt độ nước uống, vi khuẩn có trong nước.
Nguồn: channuoigiacam.com

BỆNH PPRS TRÊN HEO – PORCINE REPRODUCTIVE AND RESPYRATORY SYNDROME
Heo nái:
Heo biếng ăn, sốt 39-40 độ
Sảy thai thường gặp vào gian đoạn cuối
Tai chuyển màu xanh trong thời gian ngắn
Heo bị đẻ non, động dục giả( 3-5 tuần sau thụ tinh)
Chậm động dục sau đẻ
Heo ho và có dấu hiệu của viêm phổi
Heo nái giai đoạn đẻ và nuôi con có hiện tượng biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú
Heo đẻ ra da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ( 10-15% thai chết trong 3-4 tuần cuối thai kỳ)
Heo con chết ngay sau khi sinh(30%), heo con yếu, tai chuyển màu xanh duy trì trong vài giờ
Heo đực giống
Con vật bỏ ăn, sốt lờ đờ, ủ rũ, có triệu chứng ho hấp, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và con sinh ra nhỏ
Heo con theo mẹ
Thể trạng gầy yếu, mắt có dử màu nâu, trên da có vết phòng rộp
Tiêu chảy nhiều; tỉ lệ con sống sót giảm, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp. Chân choãi ra, run rẩy
Tỉ lệ chết có thể từ 12-15%, thận chó lên đến 100% nếu mức bệnh dạng độc lực cao
Heo con cai sữa và heo choai
Heo chán ăn bỏ ăn
Lông xơ xác dựng ngược
Thể trạng: gầy yếu, da xanh,
Heo bị tiêu chảy, hắt hơi, chảy nước mắt; thở nhanh, thở khó; giảm tăng trọng
Tỉ lệ chết: 12-20%
Thể độc lực cao: heo sốt cao 40-42 độ c, kéo dài, giảm cân nhanh chóng, tỉ lệ chết cao






Hô hấp
Tiêu hóa
Sinh sản
Tuần hoàn
Tiết niệu
Thần kinh
Vận động
Lông Da
Chân Móng
Mắt Mũi




































































































































































