
Bệnh heo

Heo bơ phờ, chậm chạp, ít vận động, chán ăn.
Da đỏ ửng, chủ yếu ở vùng da mỏng như vùng nách, háng, da bụng nhưng heo không ngứa, các mảng da lan rộng nhanh chóng và kết thành khối, mảng trên da rồi lan tỏa ra toàn thân, các mảng viêm có thể bong chóc ra để lại những mảng da loét với đầy dịch rỉ viêm đông khô dính bết lông.
Ở vùng má, mông, đầu gối do cọ hay quỳ xuống nền xuất hiện những nốt lốm đốm mảnh, nâu nhạt, rồi trở nên thâm tím có khi đen.
Heo mất nước, mất điện giải trầm trọng và có thể dẫn đến tử vong.

BỆNH VIÊM ĐA XOANG (GLASSER’S) TRÊN HEO
1. Nguyên nhân gây bệnh Glasser trên heo
Bệnh Glasser do vi khuẩn Haemophilus parasuis gây ra .Vi khuẩn gram âm, có giáp mô . Loài này hiện được chia thành 15 serotype . Thời gian ủ bệnh có thể ít nhất là 12 giờ và nhiễm trùng huyết dẫn đến viêm đa sợi tơ huyết, viêm đa khớp và viêm màng não mủ trong vòng 36 giờ sau khi nhiễm bệnh. Viêm phế quản phổi có thể phát triển và vi khuẩn xuất hiện khu trú trong chất nhầy khí quản. H. parasuis thường đi kèm với nhiễm cúm lợn và PRRS. Miễn dịch thụ động có thể bảo vệ lợn con đến 4 tuần.
2. Dịch tễ bệnh Glasser trên heo
- Lứa tuổi mắc bệnh: mọi lứa tuổi, nhưng thường ở heo <4 tháng tuổi, heo sau cai sữa từ 4-8 tuần tuổi do đây là giai đoạn heo bị stress do tách mẹ và đổi khẩu phần ăn
- Tỉ lệ ốm, tỉ lệ chết: thấp
3. Phương thức truyền lây bệnh Glasser trên heo
Nhiễm H. parasuis lây truyền trực tiếp từ lợn sang lợn khi tiếp xúc hoặc qua không khí và qua đường hô hấp.
- Yếu tố độc lực của vi khuẩn: độc tố chịu nhiệt và giáp mô
- Cơ chế gây bệnh: sau khi xâm nhập vào cơ thể, H. Parasuis tập trung nhiều trong xoang mũi và khí quảnà phổi : cư trú ở phế nangà máuà tấn công: màng phổi, xoang bao tim, xoang phúc mạc, xoang bao khớp, màng não
4. Triệu chứng bệnh Glasser trên heo
Bệnh bùng phát ở lợn con 3-6 tuần tuổi khi miễn dịch mẹ truyền suy giảm.
- Thể trạng:
Bệnh khởi phát đột ngột với sốt (40-41 ° C, 104-107 ° F), chán ăn hoàn toàn, thở nông, khó thở và đầu duỗi ra.
Có thể chảy nước mũi dạng thanh dịch (trong) và xuất hiện ho.
Có thể bị sưng mặt và một hoặc cả hai tai.
- Khớp:
Con vật trở nên đi lại khập khiễng.
Tất cả các khớp đều sưng, nóng và đau.
- Có biểu hiện đổi màu da từ đỏ sang xanh trước khi chết
- Tư thế nằm nghiêng và chết
- Heo nái: Sảy thai, heo con sinh ra nhiễm bệnh,
- Heo đực: Què
- Giảm khả năng tăng trọng
- 1 số heo có triệu chứng viêm màng não:
- Hiện tượng đột tử, ho và sốt ở những con xuất chuồng hoặc heo hậu bị.
- Heo có thể chết trong vòng 2-5 ngày kể từ khi phát bệnh
5. Bệnh tích bệnh Glasser trên heo
- Những con lợn con chết đột ngột thường thấy xác chết có thể trạng tốt.
- Khi mổ khám, fibrin màu vàng giống thạch có trên phổi (viêm màng phổi), tim (viêm màng ngoài tim), phúc mạc và các cơ quan trong ổ bụng (viêm phúc mạc), xoang bụng tích nước.
- Viêm phế quản phổi cũng có thể xảy ra.
- Lá lách và gan to ra và có thể thấy các chấm xuất huyết trên thận.
- Dịch khớp có màu đục và có thể có cặn fibrin màu vàng xanh trong các hốc khớp.
- Thường bị viêm màng não mủ.
- Những con vật chết do bệnh mãn tính bị viêm ngoại tâm mạc có sợi tơ huyết kèm theo các dấu hiệu của suy tim mãn tính, tim to, phổi phù nề, gan và lá lách to xoang bụng tích nước
6. Chẩn đoán bệnh Glasser
- Để chẩn đoán bệnh do H.Parasuis gây ra luôn phải dựa vào lịch sử bệnh, triệu chứng và bệnh tích. Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh do Streptococcus suis, đóng dấu lợn, bệnh do Salmonella. E.coli, Mycoplasma Hyorhinis, Actinobacillus Suis
- Để kiểm tra chính xác về chẩn đoán bệnh, gửi mẫu lên các cơ quan phòng thí nghiệm để chẩn đoán bằng các phương pháp: phân lập mầm bệnh;
- Chẩn đoán phân lập mầm bệnh có ý nghĩa rất quan trọng để xác định bệnh. Mẫu chẩn đoán: dịch thủy thũng hoặc lớp thanh mạc, dịch não tủy, máu tim
- Sử dụng kĩ thuật PCR để xác định sự có mặt của H.parasuis có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt khi nuôi cấy vi khuẩn cho kết quả âm tính.
7. Phòng bệnh Glasser trên heo
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột xung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Giảm thiểu bụi và mầm bệnh bằng cách bật giàn mát( mùa hè) và phun ẩm giàn mát bằng thuốc sát trùng để đảm bảo không khí lưu thông vào chuồng sạch bệnh.
Chú ý việc bật quạt hút vào ban đêm lưu thông thông khí tránh khí độc sản sinh ra nhiều và tích tụ ở tầng thấp làm heo hít phải.
Hạn chế tối đa việc di chuyển, xáo trộn đàn gây stress cho heo.
Ổn định nhiệt độ chuồng nuôi.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Kiểm soát bằng Vaccine
Tiêm phòng vacxin Glasser để phòng bệnh cho heo con lúc 3-4 tuần tuổi; heo nái
Bước 4: Kiểm soát bằng kháng sinh
Kháng sinh tiêm: Lựa chọn một trong các loại kháng sinh điều trị tác nhân chính: NASHER AMX (Amoxycilin 15%) 1ml/10kgTT – nhắc lại sau 48h, NASHER QUIN (Cefquinome 2,5%) 1ml/12,5Kg TT/ngày, TIACYCLINE (tiamulin 10% và Doxycylin 10%) 1ml/10kgP/ngày.
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh uống/ trộn: Kiểm soát lây trong tổng đàn bằng cách trộn cám SOLAMOX (Amoxycillin 70%) với liều 1kg/30 tấn thể trọng.
Bước 5: Tăng sức đề kháng
ACTIVITON: Trợ sức trợ lực, liều tiêm bắp hoặc dưới da 1ml/10kgP
SORAMIN/LIVERCIN: Tăng cường chức năng gan-thận và giải độc liều 1ml/1-2 lít nước
ZYMEPRO: Kích thích tiêu hoá, giảm mùi hôi, giảm tiêu chảy và phân khô trộn 1g/1-2kg thức ăn.
PRODUCTIVE FORTE: Tăng sức đề kháng cho cơ thể và kháng dịch bệnh, liều 1ml/ 2-4lít nước.
8. Điều trị bệnh Glasser trên heo
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột xung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Chất độn chuồng: Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt - giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn hoặc hạ sốt bằng NASHER TOL (Tolfanamic acid): 1ml/20kgP/ngày. Có thể kết hợp với thuốc long đờm và giãn khí quản.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L trộn thức ăn 0,5 – 2 kg/tấn TĂ.
Bước 4: Dùng kháng sinh
Kháng sinh tiêm: Lựa chọn một trong các loại kháng sinh điều trị tác nhân chính: NASHER AMX (Amoxycilin 15%) 1ml/10kgTT – nhắc lại sau 48h, NASHER QUIN (Cefquinome 2,5%) 1ml/12,5Kg TT/ngày, TIACYCLINE (tiamulin 10% và Doxycylin 10%) 1ml/10kgP/ngày.
Có thể áp dụng điều trị bằng kháng sinh ZITREX (azithromycin 10%), tiêm 01 mũi duy nhất tác dụng kéo dài 10 – 14 ngày. Để giảm chi phí điều trị, nhân công, giảm stress, tăng tỷ lệ khỏi.
Kháng sinh trộn: Kiểm soát lây trong tổng đàn bằng cách trộn cám SOLAMOX (Amoxycillin 70%) với liều 1kg/30 tấn thể trọng. Liên tục trong vòng 7 ngày.
Bước 5: Tăng sức đề kháng
ACTIVITON: Trợ sức trợ lực, liều tiêm bắp hoặc dưới da 1ml/10kgP
SORAMIN/LIVERCIN: Tăng cường chức năng gan-thận và giải độc liều 1ml/1-2 lít nước
ZYMEPRO: Kích thích tiêu hoá, giảm mùi hôi, giảm tiêu chảy và phân khô trộn 1g/1-2kg thức ăn.
PRODUCTIVE FORTE: Tăng sức đề kháng cho cơ thể và kháng dịch bệnh, liều 1ml/ 2-4lít nước.

BỆNH VIÊM RUỘT HOẠI TỬ DO CLOSTRIDIUM PERFRINGENS
1. Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột hoại tử
- Clostridium perfringens là vi khuẩn gram dương, yếm khí, tạo bào tử, sống trong ruột heo ở mọi lứa tuổi.
- Bình thường Clostridium perfringens hiện diện ở các cơ quan tiêu hoá của tất cả các heo con trước khi cai sữa.
- Xảy ra lác đác, gây bệnh nặng hơn E.coli.
- Độc tố beta được coi là nguyên nhân gây chết và hoại tử, tổn thương mô bào.
- Type A, B khả năng gây bệnh thấp hơn type C.
- Sức đề kháng: Đề kháng được với nhiệt độ, chất sát trùng, tia tử ngoại.
2. Dịch tễ của bệnh viêm ruột hoại tử
- Lứa tuổi mắc bệnh: heo dưới 7 ngày tuổi (3 ngày tuổi mắc cao); gây mạn tính ở heo 2-4 tuần tuổi.
Tỉ lệ chết thay đổi nhưng cao nhất có thể cao tới 50-60%.
Mầm bệnh thường được thải qua phân, tồn tại lâu ở môi trường dưới dạng nha bào.
Chuồng nuôi heo nái là những nơi có thể bị nhiễm mầm bệnh nhiều nhất.
Nếu nuôi dưỡng không tốt, yếu tố ngoại cảnh xấu, sức đề kháng heo con yếu thì heo con dễ phát bệnh.
Nếu miễn dịch heo nái tăng thì dịch bệnh trở lên lẻ tẻ.
Khi nhiễm bệnh khiến miễn dịch trong đàn thiếu hụt.
3. Phương thức lây truyền viêm ruột hoại tử
Đường truyền lây chính: truyền ngang từ heo con sang heo con và truyền lây từ phân heo nái
- Bình thường trong phân heo nái có số lượng rất ít vi khuẩn này. Khi nhiễm vào heo con thì lại phát triển nhanh về số lượng dẫn đến gây bệnh cho heo con
- Viêm ruột hoại tử trên heo do Clostridium lây lan chủ yếu qua đường tiêu hoá như: thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn, sữa mẹ…
4. Triệu chứng bệnh viêm ruột hoại tử
- Tỉ lệ chết cao (>50%).
- Tiêu chảy: dữ dội, phân nhanh chóng chuyển sang màu đỏ tía; phần thân sau có thể dính đầy phân lẫn máu.
- Thể trạng: yếu ớt, nằm bẹp, những con gần chết bụng chuyển màu xanh, thân nhiệt hạ.
- Thể quá cấp tính: xảy ra nhanh trong vòng 8h đầu tiên sau sinh, thường không biểu hiện triệu chứng gì.
- Thể cấp tính: thường thấy ở heo con khoảng 2-5 ngày tuổi; dấu hiệu đầu tiên là chết bất thình lình và kèm theo tiêu chảy phân sền sệt có thể lẫn máu.
- Thể á cấp tính: thường ở heo 5-7 ngày tuổi: phân vàng, không lẫn máu, lẫn các mảng niêm mạc ruột hoại tử, gầy còm, chết do mất nước.
- Thể mãn tính: tiêu chảy dai dẳng, phân nhiều nước; màu vàng xám, có các mảng niêm mạc bị hoại tử, con vật gầy còm, nhợt nhạt; giảm khả năng tăng trọng, không chết hoặc chết sau vài tuần, còi cọc.
5. Bệnh tích bệnh viêm ruột hoại tử
- Phù vùng bụng, biến màu chuyển sang xanh.
- Xuất huyết ruột non: không tràng, hồi tràng.
- Tổn thương niêm mạc là màu đỏ hoặc đen, với xuất huyết dữ dội và bọt khí/ sợi huyết+ bọt khí.
- Hạch bạch huyết màng treo ruột sung huyết hay xuất huyết.
- Tích dịch không/ có máu trong xoang bụng.
- Hoại tử lông nhung không tràng và bề mặt được bao phủ bởi một lớp màng giả, thường căng phồng có màu tím đậm.
- Thể mạn tính: màng ruột nhạt màu và sưng dày lên, trên niêm mạc ruột hình thành một lớp bựa hoặc nhiều dịch nhày.
6. Chẩn đoán bệnh viêm ruột hoại tử
Chẩn đoán lâm sàng:
Trong trường hợp cấp tính, những triệu chứng lâm sàng và bệnh tích mổ khám là phương phát chẩn đoán rõ ràng. Trong trường hợp bệnh không rõ ràng, việc chẩn đóa chính xác cần đưa mẫu bệnh phẩm về phòng thí nghiệm để kiểm tra
Chẩn đoán phi lâm sàng:
Gửi mẫu nghi ngờ đến các trung tâm phòng thí nghiệm để làm xét nghiệm chẩn đoán càng sớm càng tốt:
- Phân lập vi khuẩn và độc tố tại vùng ruột tổn thương
- Chẩn đoán bằng phương pháp realtime PCR
7. Phòng bệnh viêm ruột hoại tử
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
- Vệ sinh nghiêm ngặt chuồng đẻ giữa các kì nuôi rất có hiệu quả trong phòng bệnh
- Tránh để phân heo nái tồn tại lâu trong chuồng nuôi, dọn ngay sau khi heo nái đi ra chuồng
- Cho heo con bú sữa đầu đủ lượng và sớm nhất có thể để hấp thu kháng thể mẹ truyền tối thiểu.
- Chăm sóc heo nái tránh để mất sữa làm heo con liếm láp chuồn nuôi và dính phải phân heo mẹ, bổ sung dinh dưỡng cần thiết giúp heo khỏe mạnh
- Kiểm tra nước uống cho heo: nếu là nước bề mặt cần khử nước bằng clorine trước khi cho heo uống
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Chủng vaccine
Tiêm phòng vacxin giải độc tố cho heo nái
Bước 4: Dùng kháng sinh
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh uống/ trộn: trộn cám SOLAMOX với liều 20mg/Kp.P kết hợp YENLISTIN liều dùng: 1g/80-100 kg.P liệu trình 3-7 ngày; LINCOVET G.D.H liều 3-4g/10 lit nước kết hợp YENLISTIN liều dùng: 1g/80-100 kg.P
Bước 5:Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp mượt lông mềm lông và bóng lông . Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
8. Điều trị bệnh viêm ruột hoại tử
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi : Tạo hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi với môi trường bên ngoài, nhằm ngăn chặn người lạ, gà, vịt, chó, mèo, chuột… vào khu vực chăn nuôi.
Ngoài chuồng nuôi : Rắc vôi bột sung quanh chuồng nuôi và lối đi một lớp dày 1-2cm, rộng 1,5m tạo vành đai vôi bột nhằm loại trừ các nguyên nhân gây bệnh.
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt: Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Bù nước, cung cấp nước cho heo nhằm tránh mất nước
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L, được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Xử lý bằng phác đồ tiêm
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh tiêm: NASHER AMX liều 1ml/10kg thể trọng dùng tiêm bắp 3 ngày liên tiếp; NASHER QUIN Liều 2ml/25kgP; SH LINCOMYCIN 1ml/25-30kg P; SUMAZINMYCIN 1ml/10Kg.P trong 3 ngày
Trợ sức trợ lực: Dùng ACTIVITON tiêm liều 1 ml/5-10 kg TT
Xử lý bằng phác uống
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn
Kháng sinh uống/ trộn: trộn cám SOLAMOX với liều 20mg/Kp.P kết hợp YENLISTIN liều dùng: 1g/80-100 kg.P liệu trình 3-7 ngày; LINCOVET G.D.H liều 3-4g/10 lit nước kết hợp YENLISTIN liều dùng: 1g/80-100 kg.P
Giải độc cấp: UMBROLIVER pha 0,1-1,0 ml/ L nước.
Bước 5:Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE E.Se.Zn : Bổ sung Vitamin E, Selen, Kẽm, giúp mượt lông mềm lông và bóng lông . Pha 1ml/2-4 lít nước uống hoặc 1ml/20kg TT.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.

BỆNH E.COLI SƯNG PHÙ ĐẦU TRÊN HEO
Con to nhất trong đàn dễ mắc bệnh
Giảm, bỏ ăn; lười vận động
Heo ốm có tiếng kêu khan dần
Có dấu hiệu thần kinh, đi vòng vòng, co giật hoặc nhai nằm 1 bên và đạp chân kiểu bơi chèo hoặc chạy chay, liệt hoặc nằm úp lên 4 chân
Sưng phù mắt. mí mắt sưng mọng
Khi Heo xuất hiện hiện tượng lạc giọng hoặc mất tiếng kêu thì heo sẽ chết ngay sau khi đó

BỆNH NGHỆ TRÊN HEO
Có 3 thể của bệnh Leptospirosis: Thể á lâm sàng, thể cấp tính và á cấp tính, thể rối loạn sinh sản.
- Thể á lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng ít thấy hoặc khó phát hiện, nhưng khi xét nghiệm huyết thanh học thì tỷ lệ dương tính phổ biến, có khi bị cả đàn, nhất là lợn vỗ béo và lợn hậu bị. Xoắn khuẩn Leptospirae dễ phân lập được từ nước tiểu hoặc đường sinh dục từ con vật ốm.
- Thể cấp và á cấp tính
Lúc đầu, lợn bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt nhẹ 40 - 40,5ºC và thân nhiệt lên xuống ngắt quãng 3 - 5 ngày, ỉa chảy, nhưng không có triệu chứng của vàng da hay nước đái đỏ máu. Sau đó, xuất hiện triệu chứng nặng điển hình của vàng da, đái ra máu, xuất huyết và triệu chứng thần kinh, quỵ nửa thân sau, viêm màng não, run rẩy, phù đầu, mắt nặng... tỷ lệ chết cao. Nếu lợn chửa thì bị sảy thai, lợn đực bao dương vật sưng to, lợn gầy rộc do bệnh kéo dài.
- Thể rối loạn sinh sản
Sẩy thai, hay chết lưu thai, tỷ lệ con sơ sinh chết cao cùng với sốt, mất sữa và vàng da ở lợn nái. Sẩy thai sau khi nhiễm vi khuẩn 4 - 7 ngày.

BỆNH VIÊM PHỔI MÀNG PHỔI – APP TRÊN LỢN
- Thể trạng: 15-30% số heo có thể bị mệt mỏi, ủ rũ, bỏ ăn, xù lông, giảm vận động, sốt cao (41,5°C),
- Ho liên tục/ ngắt quãng, ho nhiều vào ban đêm
- Khó thở, há mồm để thở, thở thể bụng, thường tụt lại phía sau đàn/ di chuyển rất yếu ớt
- Tím tái ở tai và bàn chân, nhiệt độ trực tràng cao bất thường (do sốt cao) và tử vong có thể xảy ra trong vòng 4-6 giờ sau khi bắt đầu có các dấu hiệu lâm sàng.
- Bọt dính máu ở miệng, chảy nhiều nước dãi và những con heo như vậy sẽ chết.
- Sảy thai ở heo nái( đặc biệt là heo nái mang thai lần đầu)

BỆNH SUYỄN LỢN
Thời kỳ nung bệnh dài từ 1- 4 tuần, nhưng cũng có thể sau 1-3 ngày. Bệnh thường phát triển rất chậm trên nền của viêm phế quản phổi và thông thường có 2 thể bệnh: á cấp tính và mãn tính.
Thể cấp tính
Lúc đầu triệu chứng rất nhẹ, khó phát hiện bệnh, lợn ốm thường rời đàn, đứng hoặc nàm ở góc chuồng, chậm lớn, ăn kém, da nhợt nhạt.
Thân nhiệt bình thường hoặc sốt nhẹ 39,5 - 400C.
Lợn hắt hơi chảy nước mũi, sau đó chuyển thành dịch nhầy, thở khó, ho nhiều. Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều.
Do phổi tổn thương nên con vật khó thở, thở nhanh và nhiều, tần số hô hấp tăng. Lợn há mồn để thở, ngồi như chó ngồi để thở, vật thở dốc, hóp bụng để thở, xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp. Một số lợn bệnh chảy nước mắt, nước mũi, sùi bọt mép, niêm mạc miệng, mũi, mắt thâm tím do thiếu oxy.
Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7- 20 ngày. Tỷ lệ chết phụ thuộc rất nhiều vào lứa lợn nuôi, sức đề kháng của cơ thể và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như bệnh thứ phát.
Thể mạn tính
Thể này thường từ thể cấp tính chuyên sang. Lợn con và lợn nái không có chửa hay mắc.
Lợn bệnh ho húng hắng liên tục và bệnh kéo dài, ho khan, có khi ho giật từng cơn rồi nôn mửa, lưng cong, cổ vươn, mõm cúi xuống, ho đến khi long đờm ra thì cơn ho mới dừng. Lợn khó thở nặng.
Lợn ăn uống bình thường, nhưng lợn chậm lớn còi cọc.
Da lợn kém bóng, lông cứng và xù dựng đứng, nhiều trường hợp thấy da bị quăn và xuất hiện nhiều vảy nâu.
Một số trường hợp bị viêm khớp và vì thế chúng đi lặc, đôi khi thấy liệt và bán liệt. Ở lợn nái, có thể có thấy thai chết lưu, sảy thai và con chết yểu.
Nếu bị bội nhiễm thì lợn bệnh ho thường xổ mũi như mủ khiến bức tranh lâm sàng trở nên phức tạp.
Nếu lợn bệnh qua được thì khả năng hồi phục cũng rất kém, do phổi bị tổn thương nặng, lợn trở nên còi cọc và chậm lớn.

BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÊN HEO
Triệu chứng thay đổi tùy thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh và sức đề kháng của cơ thể
Thể cấp tính( thể bại huyết):
Con vật có biểu hiện sốt rất cao( lên đến 42,2 độ), khó thở, thở thể bụng, kiệt sức
Tỉ lệ chết cao( 5-40%)
Ở lợn chết và sắp chết, vùng bụng có màu tím do trúng độc nội độc tố
Thể á cấp tính:
Phổ biến ở lợn trưởng thành và heo nuôi vỗ béo giai đoạn cuối
Heo có biểu hiện ho, thở thể bụng
Thể mãn tính:
Phổ biến ở heo 10-16 tuần tuổi
Biểu hiện: ho, thở mạnh
Triệu chứng dễ nhầm với bệnh do M. Hyopeumoniae gây ra. Vì vi khuẩn P. multocida thường kế phát làm cho bệnh suyễn heo càng thêm trầm trọng

BỆNH HỒNG LỴ TRÊN HEO.
Thể cấp tính:
Heo sốt cao 40 – 40,5°C; đuôi luôn ngoáy, đau bụng lưng cong vồng lên, một vài vùng da mỏng ửng đỏ, heo bỏ ăn;
Sau đó heo bắt đầu tiêu chảy (đây là triệu chứng thường gặp nhất), trong phân có chất nhầy lẫn máu và mảnh hoại tử ruột màu trắng làm cho phân có màu vàng xá;
Tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, làm heo trở nên gầy yếu, hốc hác, lông xù, đuôi cụp, dính bết phân và thường tách bầy.
Thể mạn tính:
Sau khi heo mắc bệnh ở thể cấp tính khoảng 1 tuần thì chuyển sang thể mạn tí;
Heo hết sốt và bớt tiêu chảy, hiện tượng tiêu chảy kèm xuất huyết xảy ra cách ngày, lúc bị lúc không, phân có chứa máu đen nên vì thế còn được gọi là Bệnh tiêu chảy phân đen;
Heo ăn kém, gầy và chết dần do mất nước;
Các heo mắc thể mạn tính thường là nguồn bệnh và là nguyên nhân gây lây lan bệnh cho các đàn heo khác trong trại chăn nuôi.

BỆNH VIÊM DA DO THIẾU KẼM TRÊN HEO NÁI VÀ HEO THỊT.
- Heo cai sữa và heo hậu bị chậm lớn, giảm ăn, uống nước nhiều.
- Bệnh phát ra khi trên da heo xuất hiện các đốm đỏ nhỏ như muỗi cắn, tập trung tại các vùng da mỏng, sau đó sẽ lan dần sang các vùng da khác, với đặc điểm đối xứng qua đường giữa lưng và đường trắng dưới bụng. Các triệu chứng rõ ràng hơn khi ở vùng chân dưới và trên lưng. Ngoài ra các triệu chứng đôi khi cũng có thể thấy ở các vùng xung quanh mắt, tai, mõm và đuôi, cuối cùng là lan ra toàn bộ cơ thể.
- Trong thời gian này do sức đề kháng của da yếu, vi khuẩn, nấm da, cái ghẻ, kí sinh trùng sẽ phụ nhiễm, gây tổn thương các điểm đỏ làm mở rộng các điểm này, tạo nên vùng hoại tử lớn, hoặc rất nhiều vùng hoại tử nhỏ trên da, dịch viêm từ vết thương chảy ra tạo thành lớp vảy, đóng trên da.
- Heo bị rụng lông và lở loét mặt ngoài da giống như bị ghẻ, nấm, và viêm da tiết dịch, điểm khác biệt là nó không bị ngứa như bị ghẻ hoặc nấm. Đối với viêm da tiết dịch thì thường xảy ra ở những con heo non hơn, con nhỏ hơn. Nếu bị nhiễm trùng, các nốt loét sinh mủ dày lên thành mảng.
- Triệu chứng thiếu kẽm thường gặp ở heo nái là lông dễ rụng, phối nhiều lần không thể đậu thai, trong khi heo vẫn ăn uống bình thường, không bị sốt. Hiện tượng này dễ gặp ở heo nái nuôi tại vùng núi phía Bắc.
- Triệu chứng thứ hai là khi heo đang có chửa hay bị viêm da do thiếu kẽm (hiện tượng này thường xảy ra ở heo giống nội), sau khi đẻ xong hiện tượng này hết.
- Khi kiểm tra và điều chỉnh lại chế độ dinh dưỡng thì những vùng da viêm tự khỏi.

HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở HEO CON (DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN )
Hội chứng tiêu chảy ở heo con là một vấn đề toàn cầu, mỗi năm hội chứng này gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi heo thế giới và là một nguyên nhân quan trọng làm tăng tỷ lệ chết ở heo
HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở HEO CON
Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con vì vậy việc hiểu, đánh giá đúng nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp chúng ta dễ dàng xử lý và đưa ra những giải pháp để kiểm soát bệnh.
Nguyên nhân chính gây nên tiêu chảy cho heo con: vi khuẩn, virus, một số nguyên nhân khác như: nhiệt độ, môi trường, thức ăn...
1. Nguyên nhân gây bệnh
• Do heo mẹ bị viêm vú, viêm tử cung, mất sữa dẫn đến sữa bị nhiễm khuẩn => Heo con bú vào sẽ bị tiêu chảy.
• Heo con bị lạnh do thiếu nhiệt.
• Heo con không bú đủ sữa đầu.
• Thiếu sắt => rối loạn tiêu hóa => heo con tiêu chảy.
• Chuồng nuôi bẩn, vệ sinh kém dẫn tới heo con bị nhiễm khuẩn, nhiễm cầu trùng.
• Tập ăn và cai sữa không đúng phương pháp cũng là nguyên nhân dẫn tới tiêu chảy ở heo con.
2. Cách phòng:
• Đối với heo mẹ mới đẻ nên phòng viêm vú, viêm tử cung bằng kháng sinh sau: NASHER AMX,...
• Cung cấp nước, khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng cho heo nái trước và sau khi sinh.
• Khi nái sắp sinh cần chuẩn bị quây úm đảm bảo nhiệt độ, tránh để heo con bị lạnh khi ra khỏi cơ thể mẹ
• Cho heo con bú đủ sữa đầu.
• Tiêm FERAXX- FORTE cho heo con lúc 3 ngày tuổi để cung cấp sắt, chống thiếu máu, rối loạn dinh dưỡng.
• Vi trùng gây bệnh rất dễ bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng như DES FOAM PAA hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE,. Vì thế, nếu vệ sinh sát trùng chuồng trại tốt sẽ ngừa được bệnh.
• Tập ăn cho heo con giai đoạn 7 – 10 ngày tuổi.
• Chú ý cai sữa đúng phương pháp, nên cai sữa giai đoạn heo con được 25 ngày tuổi. Đặc biệt, không cho heo ăn no ngay ngày đầu tiên sau cai sữa.
• Trong thời gian cai sữa bổ sung thêm men tiêu hóa PROBI, ZYMEPRO giúp heo con tiêu hóa, hấp thu thức ăn tốt hơn.
3. Điều trị:
Khi phát hiện heo con bị tiêu chảy cần nhận biết và phân biết heo bị tiêu chảy do nguyên nhân nào, nếu do các nguyên nhân kể trên thì có biện pháp xử lý như sau:
Dùng YENLISTIN 40%: Liều pha nước: 1g/16-20lít nước hoặc 1g/80-100kg P. Liệu trình 3-7 ngày
Liều trộn thức ăn: 100-120ppm.
Dùng SULTEPRIM ORAL: Liều 1ml/1-2 lít nước uống. Liệu trình 3-5 ngày
Dùng HEHMULIN 450: Liều trộn 900g/1 tấn thức ăn, liệu trình 10-14 ngày.

BỆNH VIÊM TEO MŨI TRUYỀN NHIỄM (PAR)
Triệu chứng đầu tiên: ho, hắt hơi, và có dịch mũi chảy ra
Nái
Không có dấu hiệu lâm sàng.
Mũi biến dạng: xương hàm trên bị ngắn hơn so với hàm dưới
Heo nái bị xuất huyết mũi vào thời kì thai cuối có thể ảnh hưởng đến thai
Heo con theo mẹ, heo cai sữa và heo choai
Hắt hơi, hắt hơi ra máu, thở khụt khịt
Chảy nước mắt thành dòng
Mũi bị vẹo, co lại và nhăn nheo.
Nước mũi chảy nhiều có dịch nhày, có mủ
Tăng trọng và tăng trưởng hàng ngày giảm.
Hệ số chuyển đổi thức ăn tăng lên.
Gia tăng các bệnh đường hô hấp.

GIẢM TỶ LỆ CHẾT SAU CAI SỮA
Ở các nước chăn nuôi tiên tiến thì tỷ lệ chết sau cai sữa được khống chế ở mức dưới 10%. Ở một số quốc gia, tỷ lệ chết sau cai sữa lên đến 20%. Nếu giảm được tỷ lệ chết sau cai sữa xuống dưới 10% thì ta sẽ tăng được thêm 2 heo thịt. Lý do của sự chênh lệch năng suất ở đây là do trang thiết bị lạc hậu, phương pháp quản lý nuôi dưỡng còn nhiều thiếu sót. Do trang thiết bị lạc hậu, nên việc thông thoáng khí chuồng trại, giữ ấm không tốt sẽ khiến heo dễ mắc bệnh hô hấp, tỷ lệ heo chết tăng. Heo nuôi với mật độ cao sẽ khiến các bệnh dễ thành mãn tính, năng suất bị sụt giảm.
Vấn đề ở các trại năng suất thấp là số heo con cai sữa thấp và tỷ lệ chết cao. Để cải thiện được tỷ lệ chết sau cai sữa ta cần cải tiến trang thiết bị, tạo môi trường nuôi dưỡng phù hợp để giúp heo phòng ngừa tốt dịch bệnh. Trại cần ghi chép, thu thập, phân tích dữ liệu năng suất. Dựa vào đó ta mới đề ra mục tiêu, thông báo rộng rãi cho toàn bộ nhân viên trại để cùng nhau thực hiện.
Cải tiến môi trường nuôi và trang thiết bị chuồng trại: Thiết bị và môi trường nuôi không phù hợp sẽ khiến heo dễ mắc bệnh, chết heo. Chính vì vậy, môi trường trong chuồng trại phải thích hợp với heo. Những trại có năng suất tốt thường sẽ có trang thiết bị hiện đại. Chuồng được cách nhiệt tốt, quản lý tự động tiểu khí hậu chuồng trại.
Ngăn chặn dịch bệnh lây lan: để ngăn chặn dịch bệnh lây lan cần áp dụng cùng vào cùng ra ở từng giai đoạn nuôi. Sau khi di chuyển heo cần xịt rửa/sát trùng và giữ khô chuồng trại. Cho từng nhóm heo đẻ cùng lúc và cai sữa chung với nhau. Nếu làm tốt được vấn đề này thì sẽ dễ kiểm soát được dịch bệnh.
Sản xuất heo con khỏe mạnh: khi nhập giống heo cao sản mới thì cần có chương trình quản lý phù hợp. Nái phải khỏe mạnh thì heo con mới khỏe mạnh được. Thông qua việc tiêm ngừa và phòng dịch ta sẽ giúp nái hình thành sức miễn dịch, đảm bảo an toàn trước dịch bệnh. Cần cung cấp đầy đủ dưỡng chất cho nái, những bầy nhiều con thì cần nhanh chóng ghép bầy, sử dụng các chế phẩm thay thế sữa mẹ. heo con sau khi sinh nhanh chóng lau khô, cho bú sữa đầu và để vào khu vực sưởi. Sữa đầu sẽ giúp heo con có sức đề kháng với dịch bệnh nên cần cho heo con uống đủ và nhanh nhất có thể. Nếu chỉ dựa vào sữa mẹ thì heo con không thể lớn nhanh, chính vì vậy cần bổ sung thêm cám tập ăn cho heo con. Cám dễ tiêu hóa, mùi vị thơm sẽ giúp heo con ăn nhiều và mau lớn.
Thực hiện tiêm ngừa và nâng cao an toàn vệ sinh dịch tễ: chích ngừa vắc-xin là biện pháp giúp toàn đàn heo có sức đề kháng lại dịch bệnh. Việc thực hiện vắc-xin sẽ giúp giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra. Ví dụ như việc thực hiện vắc-xin ngừa PED và TGE sẽ giúp ngăn ngừa các bệnh do tiêu chảy.
Heo thịt nên được tiêm vắc-xin ngừa bệnh hồi tràng, PRRS, viêm màng phổi, viêm teo mũi truyền nhiễm, viêm phổi do Pasteurella. Nên dựa vào kết quả kiểm tra huyết thanh, kiểm tra khi giết mổ và tư vấn của bác sĩ thú y để lên chương trình vắc-xin.
Đưa vào sử dụng chuồng heo bệnh: heo bệnh nếu nuôi nhốt chung với heo thường thì chúng sẽ không ăn đủ cám khiến tình hình bệnh càng trở nên nguy hiểm. Heo bệnh cũng sẽ thải nhiều tác nhân gây bệnh khiến lây lan sang heo khỏe mạnh. Chính vì vậy, heo bệnh sẽ phải được cách ly. Khi heo bệnh được cách ly thì tốc độ lây lan sẽ giảm, khả năng heo bệnh được phục hồi sẽ tăng. Chuồng cách ly heo bệnh nên được giữ ấm đảm bảo cho heo ăn và uống đầy đủ. Sử dụng kháng sinh và thuốc hạ sốt để hạn chế sự phát triển vi khuẩn và hạ thân nhiệt heo. Khi phát hiện ra heo bệnh cần ngay lập tức cách ly và điều trị. Cần đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng thuốc. Khi sử dụng thuốc cần ghi chép và bảo quản kỹ các thông tin như tên chế phẩm, liều lượng, thời gian điều trị, thời gian ngưng thuốc… Nếu áp dụng tốt biện pháp trên thì tỷ lệ chết heo sẽ giảm, giảm chi phí sử dụng thuốc, giải quyết được vấn đề tồn dư kháng sinh.
Vào đầu những năm 2000 khi chưa có vắc-xin ngừa bệnh do Circovirus thì Tiến sĩ người Pháp F. Madec đã đề ra các quy tắc để giảm thiểu thiệt hại các bệnh do Hội chứng còi cọc sau cai sữa heo con (PMWS) gây ra.
Tập trung quản lý trại đẻ:
Áp dụng triệt để cùng vào cùng ra. Sau mỗi nhóm heo đẻ cần vệ sinh, tiêu độc kỹ.
Heo nái phải tắm rửa sạch, trước khi đẻ phải điều trị hết bệnh và diệt kí sinh trùng.
Chỉ khi thật cần thiết mới ghép bầy và chỉ thực hiện trong vòng 24 tiếng sau sinh.
Tập trung quản lý trại cai sữa:
Thiết kế các tấm vách để tránh tình trạng gió lạnh lùa, chia nhỏ chuồng.
Áp dụng cùng vào cùng ra ở các nhóm heo mới nhập.
Tránh nuôi nhốt với mật độ quá cao (duy trì dưới 3 con/m2 ).
Tăng cường diện tích máng ăn (tối thiểu 7 cm/con).
Duy trì nhiệt độ thích hợp.
Cấm nuôi nhốt chung với heo của nhóm khác.
Tập trung quản lý trại thịt:
Sử dụng vách chia nhỏ chuồng.
Áp dụng cùng vào cùng ra.
Cấm nuôi nhốt chung heo khác nhóm.
Duy trì thông khoáng khí chuồng trại.
Không nuôi với mật độ quá cao (4,5 con/3,3 m2 ).
Tập trung quản lý các vấn đề khác:
Áp dụng chương trình vắc-xin phòng ngừa hiệu quả.
Duy trì tiểu khí hậu chuồng trại thích hợp, phòng tránh stress khi chuyển heo.
Khi thiến hoặc chích heo, phải vệ sinh tiêu độc thật kỹ. Cửa ra vào phải có dụng cụ sát trùng chân.
Nhanh chóng cách ly, điều trị hoặc đào thải heo bệnh
Nguồn: Heo.com.vn

ĐÁNH BẠI TIÊU CHẢY SAU CAI SỮA VỚI 3 BƯỚC
Tình trạng tiêu chảy ở heo con sau cai sữa là một vấn đề do nhiều yếu tố ảnh hưởng. Để đánh bại điều này, mà không càn sử dụng phụ gia kháng sinh hay oxit kẽm, cần đến 1 biện pháp toàn diện. Dưới đây là 1 số biện pháp bao gồm: sử dụng xơ không tiêu hóa trong khẩu phần, sử dụng dấu ấn sinh học của phản ứng viêm và gắn với kế hoạch sức khỏe toàn diện.
Trong những năm gần đây, việc chăn nuôi heo không sử dụng kháng sinh đã trở thành 1 vấn đề chính yếu trong ngành này. Áp lực từ những tổ chức địa phương và quốc tế đã khiến cho các công ty phải xây dựng lại một chuỗi sản xuất mới hoàn toàn. Giờ đây, thách thức này mở rộng đến mô hình của các trang trại. Để trang trại chăn nuôi heo có thể hoạt động mà không sử dụng đến kháng sinh, một trong những thách thức chính đó là tình trạng tiêu chảy ở heo con sau cai sữa.
Sử dụng xơ không hòa tan trong thức ăn chăn nuôi
Các bệnh tiêu hóa trong tuần đầu sau cai sữa thường liên quan đến việc tiêu thụ thức ăn. Khoảng thời gian từ khi cai sữa cho đến khi heo ăn lần đầu thường kéo dài 2 ngày, dẫn đến khả năng tiêu hóa thấp hơn. Việc hạn chế rối loạn ăn uống (bulimia) là rất quan trọng, rối loạn này có thể bị kích thích do cơn đói. Vì vậy, việc sử dụng xơ không hòa tan trong khẩu phần có thể hỗ trợ về vấn đề này.
Vì lượng thức ăn ăn vào hằng ngày thường được chia thành các bữa và cách cho ăn khác nhau, quá trình tiêu hóa cũng phải thích nghi với các thực tế này. Thức ăn được giữ lại trong dạ dày và một phần nhỏ thức ăn được đưa xuống ruột non. Sự co bóp của cơ giúp thức ăn di chuyển qua đường ruột và đến ruột kết. Trong quá trình này, van hồi-manh tràng đóng vai trò tối quan trọng, nó giúp hạn chế sự trào ngược dịch chứa nhiều vi khuẩn từ ruột già lên đoạn hồi tràng (Hình 1). Phần thức ăn không tiêu hóa được lên men ở kết tràng và thải ra ngoài.
Hình 1 – Hình vẽ cấu tạo van hồi-manh tràng
Tuy nhiên, sau khi cai sữa, khả năng tiêu hóa ở heo con trở nên rất hạn chế vì nồng độ a-xít dạ dày thấp và do sự thay đổi làm giảm bề mặt thủy phân và hấp thụ ở ruột non. Hệ tiêu hóa chưa trưởng thành của heo con tại thời điểm cai sữa khiến cho chức năng của cơ vòng giữa đoạn hồi tràng và manh tràng (nơi vi khuẩn sinh sống) hoạt động chưa chuẩn xác. Khi xảy ra sự trào ngược dịch ruột từ manh/kết tràng vào hồi tràng, số lượng vi khuẩn tại hồi tràng tăng, làm tăng nguy cơ nhiễm các mầm bệnh cơ hội (ví dụ các chủng coliform) và dẫn đến nguy cơ mắc bệnh đường tiêu hóa.
Bổ sung thức ăn có thành phần giúp cơ vòng phát triển khỏe mạnh. Trong năm 2015, một đội nghiên cứu dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu Maria Grazia Cappai tại đại học Sassari, Ý, đã chỉ ra rằng, việc gia tăng số lượng hạt thức ăn > 1 mm trong khẩu phần làm tăng dộ dày của cơ vòng hồi-manh tràng, dẫn đến sự lượng vi khuẩn cơ hội trong hồi tràng giảm xuống.
Thêm vào đó, xơ không hòa tan có thể làm hạn chế sự kết bám của E. coli vào tế bào thành ruột và do đó, làm giảm tỉ lệ tiêu chảy ở heo con.
Các bữa ăn được chia nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình vận chuyển, hạn chế sự tích tụ của các phần không tiêu hóa được trong thức ăn ở ruột già và do đó, giảm nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn đường ruột.
Những vật chất này đã được xác minh trong một cuộc thử nghiệm được thực hiện tại cơ sở nghiên cứu Mixscience. Trong thử nghiệm đó, kết quả của 3 nhóm heo con thí nghiệm đã được so sánh. Heo con đã được cho ăn khẩu phần tập ăn có chứa một trong những chất sau:
0,61% lignin
1,53% lignin
2,45% lignin.
Ở nhóm nhận được mức lignin cao nhất heo con không cần được điều trị tiêu chảy. Sự khác biệt về tăng trưởng giữa những con heo được điều trị hoặc không bị tiêu chảy cao hơn ở nhóm nhận mức lignin thấp nhất (0,61%) so với nhóm nhận 1,53% lignin. Heo con được cho ăn với mức lignin cao nhất đã tăng lượng thức ăn ăn vào lên 16%, trong khi tốc độ tăng trưởng tăng 27% so với những con nhận mức lignin thấp nhất. Heo con được cho ăn hàm lượng lignin cao hơn cũng sạch hơn đáng kể so với các heo con khác (khi đo bằng dấu phân trên cơ thể).
Hạn chế viêm ruột
Việc hạn chế viêm ruột cũng là một phương pháp quan trọng để kiểm soát sức khỏe đường ruột. Sử dụng dấu ấn sinh học trong phân để định lượng tình trạng viêm ruột để nghiên cứu về ảnh hưởng của thức ăn trong giai đoạn cai sữa. Myeloperoxidase (MPO), một dấu ấn sinh học từ hoạt động của tế bào bạch cầu trung tính, là một thành phần của lysosome. Khi những tế bào miễn dịch này tập trung trên thành ruột và hạt hoá (degranulate), MPO sẽ được phóng thích vào khoang ruột. Enzyme này đã được ứng dụng trong y học trên người trong vài thập kỉ để xác nhận chẩn đoán các bệnh viêm ruột, và dấu hiệu này là chỉ báo ổn định của quá trình phân giải vi khuẩn trong kết tràng.
Một bài thuyết trình tại hội nghị Zero Zinc (Không Kẽm) vào tháng 6/2019 tại Copenhagen, Đan Mạch, đã kết luận rằng, lượng MPO trong phân không bị ảnh hưởng bởi giới tính hay trọng lượng cai sữa của heo con. Tuy nhiên, MPO bị ảnh hưởng bởi độ tuổi heo con tại thời điểm lấy mẫu và điểm phân theo thang điểm Bristol. Lượng MPO tăng lên trong trường hợp heo đi phân không tốt. Kết hợp với năng suất chăn nuôi, xét nghiệm này cho phép xây dựng những công thức thức ăn phù hợp mà không sử dụng kháng sinh hay oxit kẽm.
Hình 2: Tỷ lệ heo con được điều trị tiêu chảy ở mỗi nhà trại
Áp dụng 1 biện pháp toàn diện
Trong kiểm soát sức khỏe đường tiêu hóa, thức ăn đóng vai trò cốt lõi. Tuy nhiên, nó không phải là biện pháp duy nhất để khắc phục các vấn đề trong trang trại. Do đó, dinh dưỡng nên được tích hợp vào một chương trình tổng thể bao gồm, xây dựng chuồng trại, di truyền giống, quản lý trang trại, mức độ kiến thức của nhà chăn nuôi, nguồn nước, áp lực mầm bệnh và kế hoạch dự phòng thú y. Tại Mixscience, một chiến lược như vậy được gọi là cách tiếp cận Quản lý Sức khỏe Động vật Bền vững.
Cách tiếp cận này được minh họa bởi một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2019 tại các cơ sở nghiên cứu của công ty, so sánh tình trạng vệ sinh, năng suất và kỹ thuật chăn nuôi ở những heo con được nuôi trong một tòa nhà cũ (hơn 30 năm) với hệ thống thông gió kém và sàn lát bê tông, so với những con trong một tòa nhà khá mới với một sàn thép. Trong số heo con được nuôi trong tòa nhà cũ, 44% phải được điều trị tiêu chảy, so với 2% ở tòa nhà còn lại (xem Hình 2). Tiêu chảy liên quan đến việc giảm lượng tiêu thụ thức ăn 8% và giảm 20% tăng trọng trong 21 ngày đầu sau cai sữa
Theo pigprogress.net

PHƯƠNG PHÁP BẤM RĂNG CHO HEO SƠ SINH
Vệ sinh dịch tễ trên đàn heo con luôn là một trong những vấn đề cần phải được quan tâm hàng đầu nhằm hạ thấp tỷ lệ chết của heo con theo mẹ.
Biện pháp bấm răng heo sơ sinh giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe đàn heo con. Vì thế cần áp dụng đúng cách biện pháp bấm phần nhọn của răng và biện pháp mài răng.
Nếu trong nông trại trạng thái heo con không tốt cần phải kiểm tra lại việc bấm răng, nếu có mủ chảy ra nghĩa là cần có biện pháp điều trị.
Mục đích của việc bấm răng cho heo sơ sinh
Bấm răng cho heo sơ sinh là để trong quá trình bú sữa heo con không dùng răng nanh cắn vú mẹ làm nái đau không tiết sữa, tránh làm bị thương vùng vú heo nái cũng như làm bị thương mặt các heo con khác vì vi khuẩn có thể thông qua các vết thương này xâm nhập gây nhiễm trùng.
Ưu điểm của bấm răng
- Ngăn đầu vú và vú heo không bị thương.
- Ngăn sự ngừng tiết sữa ở heo mẹ do bị đau.
- Ngăn trong quá trình bú sữa heo cắn vào mặt heo con khác.
Heo bấm răng không đúng bị viêm nhiễm khoang miệng rất nhiều
Nhược điểm của bấm răng
- Là nguyên nhân truyền bệnh.
- Nếu bấm không đúng kỹ thuật dễ bị nhiễm khuẩn như chứng viêm khoang miệng, liên cầu khuẩn, vi khuẩn gây viêm ruột xâm nhập.
- Tốn công lao động.
Với những ưu và khuyết điểm ở trên, các trại phải lựa chọn giữa bấm răng và không bấm răng. Việc lựa chọn này không hoàn toàn chính xác ở các trại khác nhau. Một số tổ chức bảo vệ động vật khuyến cáo không nên bấm răng và mài răng.
Trường hợp không bấm răng
Người viết đã tham quan một số nông trại không tiến hành bấm răng mà năng suất vẫn khá cao. Đặc trưng của các trại này là vệ sinh trại đẻ rất tốt, lượng sữa của nái khá cao. Quản lý ghép bầy phù hợp với số vú của nái. Dĩ nhiên vẫn có vết thương trên mặt heo con nhưng số lượng không nhiều và phần lớn sau khi cai sữa sẽ bình phục.
Cũng có trường hợp chỉ bấm răng heo con nái hậu bị và nái đẻ nhiều con còn lại không bấm.
Phương pháp bấm răng
Nếu bấm răng, đầu tiên phải giữ vệ sinh không cho viêm nhiễm, nếu để lây truyền bệnh hoặc nhiễm khuẩn là không đạt.
Sử dụng kềm bấm
Phải chuẩn bị nhiều hơn 2 cái kềm bén và làm bằng inox không rỉ. Mỗi khi bấm răng cho con của nái khác phải thay kềm và nhúng vào thuốc sát trùng (thuốc sát trùng không được pha đặc quá vì kềm được đưa vào miệng heo). Khi bấm chỉ bấm phần nhọn của răng. Để bấm được như vậy lúc đầu cần phải tập trung chú ý, sau khoảng 3 tháng có thể thành thục.
Sử dụng biện pháp mài răng
Gần đây có nông trại sử dụng máy mài thay cho kềm bấm. Thế nhưng có một số nông trại không quen sử dụng máy mài nên không áp dụng biện pháp này. Nếu dùng cách bấm răng, có nhiều trường hợp làm răng bị mẻ, răng được bấm còn nhọn hơn. Biện pháp mài răng khắc phục được nhược điểm này. Một số trại vừa dùng kềm bấm vừa sử dụng máy mài. Hiện nay ở châu Âu họ không bấm răng mà sử dụng phổ biến máy mài vì lý do vệ sinh an toàn dịch tễ và không làm cho heo bị stress. Biện pháp này được một số quốc gia phát triển về chăn nuôi áp dụng có năng suất cao. Người viết nghĩ chúng ta cũng nên áp dụng phương pháp mới này.
Thời điểm bấm răng
Người viết đã thấy một số trại tiến hành đỡ đẻ đồng thời với việc bấm răng, điều này chứng tỏ họ đã không hiểu chính xác ý nghĩa của việc đỡ đẻ là giúp heo con bú sữa đầu đầy đủ.
Nhất định phải cho heo bú sữa đầu xong mới bấm răng. Tuy có tài liệu nói rằng sau khi sinh 6 tiếng, nếu bấm răng cũng không gây ảnh hưởng tới việc bú sữa đầu. Người viết khuyến cáo nên tiến hành bấm răng sau khi đẻ khoảng 24 tiếng.
Bấm răng là một trong những việc phải làm trong thời kỳ heo mới sinh ra, và là một bước không thể bỏ qua.
Có một chủ trại ở Mỹ đã nói: “Tại sao chúng ta lại bấm răng? Bởi vì nông trại chúng ta cần nái có 14 đến 16 vú và phải bảo vệ chúng, những nái dưới 12 vú sẽ bị đào thải”.
Nguồn: Theo Pig & Pork






VIRUS
Vi khuẩn
PROTOZOA
KÝ SINH TRÙNG
NẤM
Chuồng trại
Giống
Dinh Dưỡng
Môi Trường
Nước Uống
Chăm Sóc





































































































































































