
Bệnh bò

Quản lý sinh sản bò là một phần quan trọng trong chăn nuôi để đảm bảo năng suất và hiệu quả kinh tế. Dưới đây là các bước chi tiết trong quản lý sinh sản bò:
1.Theo dõi chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục: Bò cái thường có chu kỳ động dục khoảng 21 ngày. Cần ghi chép cẩn thận ngày bắt đầu và kết thúc chu kỳ để dự đoán thời điểm động dục tiếp theo.
Dấu hiệu động dục:
Bò cái kêu nhiều, bồn chồn, ít ăn.
Sưng đỏ và có dịch nhầy trong suốt từ âm hộ.
Thường đứng yên khi bò khác nhảy lên.
2. Phối giống
Thời điểm phối giống: Thời điểm phối giống tốt nhất là khoảng 12-24 giờ sau khi bắt đầu xuất hiện dấu hiệu động dục.
Phương pháp phối giống:
Phối giống tự nhiên: Sử dụng bò đực giống tốt để phối giống trực tiếp. Phương pháp này phù hợp cho các trang trại nhỏ.
Phối giống nhân tạo: Sử dụng tinh dịch từ bò đực giống được bảo quản đông lạnh để thụ tinh cho bò cái. Phương pháp này giúp kiểm soát tốt hơn về mặt giống và tăng hiệu quả phối giống.
3. Chăm sóc bò mang thai
Dinh dưỡng:
Cung cấp thức ăn giàu dinh dưỡng, đặc biệt là protein, canxi và phốt pho để hỗ trợ sự phát triển của thai nhi. Có thể sử dụng các sản phẩm như: CALPHO/CANXIPRO/UMBROCAL với liều lượng 1ml/1-2l nước uống
Đảm bảo nước uống sạch và đủ lượng.
Vệ sinh và môi trường:
Giữ chuồng trại sạch sẽ, thoáng mát.Thường xuyên phun thuốc sát trùng định kỳ
Tránh để bò mang thai tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh hoặc stress.
Theo dõi sức khỏe:
Kiểm tra định kỳ sức khỏe của bò mang thai, bao gồm tình trạng thể chất, dịch nhầy và dấu hiệu bất thường.
Tiêm phòng các bệnh phổ biến và tẩy giun định kỳ bằng IVERTIN.
4. Chăm sóc bò đẻ và bê con
Chuẩn bị trước khi đẻ:
Tạo không gian riêng cho bò đẻ, đảm bảo sạch sẽ, ấm áp và yên tĩnh.
Theo dõi dấu hiệu sắp đẻ như bầu vú căng, bụng to, bò bồn chồn.
Quá trình đẻ:
Giám sát chặt chẽ quá trình đẻ, hỗ trợ nếu cần thiết nhưng không can thiệp quá mức.
Đảm bảo bò mẹ và bê con được vệ sinh sạch sẽ ngay sau khi đẻ.
Chăm sóc bê con sau khi đẻ:
Đảm bảo bê con bú được sữa đầu (sữa non) trong 24 giờ đầu tiên để nhận kháng thể.
Giữ ấm cho bê con, đặc biệt là trong mùa lạnh.
Kiểm tra sức khỏe bê con, tiêm phòng và tẩy giun định kỳ.
5. Quản lý bò hậu bị (bò cái chưa sinh sản)
Dinh dưỡng: Cung cấp thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo bò hậu bị phát triển tốt và sẵn sàng cho quá trình sinh sản.
Tập luyện: Đảm bảo bò hậu bị có đủ không gian để vận động, giúp tăng cường sức khỏe và khả năng sinh sản.
Theo dõi chu kỳ động dục: Ghi chép và theo dõi chu kỳ động dục của bò hậu bị để chuẩn bị cho quá trình phối giống.
6. Ghi chép và quản lý thông tin
Ghi chép chi tiết:
Lưu trữ thông tin về ngày phối giống, ngày dự kiến đẻ, tình trạng sức khỏe, và các can thiệp y tế.
Sử dụng công nghệ:
Ứng dụng phần mềm quản lý chăn nuôi để theo dõi và phân tích dữ liệu về sinh sản.
Sử dụng cảm biến và thiết bị đeo tay để theo dõi tình trạng sức khỏe và chu kỳ động dục của bò.
Kết luận: Quản lý sinh sản bò đòi hỏi sự cẩn thận, kiên nhẫn và hiểu biết sâu rộng về các kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc. Bằng cách áp dụng những kỹ thuật này, bạn có thể đảm bảo đàn bò khỏe mạnh và năng suất sinh sản cao.

BỆNH CƯỚC CHÂN TRÊN TRÂU BÒ VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
1. Bệnh cước chân là gì
Bệnh cước chân là bệnh sưng thũng chân do co thắt mao mạch ngoại vi ở chân trâu, bò. Bệnh xuất hiện vào các tháng mùa đông và đầu mùa xuân khi thời tiết lạnh ẩm kéo dài ở các tỉnh thành phía Bắc. Bệnh không gây chết nhưng trâu, bò không đi lại được và có thể hoại tử chân. Điều này làm giảm giá trị của trâu bò và dễ xuất hiện các căn bệnh kế phát.
2. Nguyên nhân
Khi thời tiết lạnh ẩm kéo dài cộng với nền chuồng ẩm ướt mất vệ sinh mà trâu bò phải đứng trên chuồng nuôi với thời gian dài sẽ làm cho chân trâu, bò bị tê cóng dân đến hệ thống mao mạch ở chân bị co lại, kém lưu thông máu, gây tắc nghẽn dẫn đến bệnh cước chân.
Môi trường ẩm ướt: Đây là điều kiện lý tưởng để các vi khuẩn và nấm phát triển và gây nhiễm trùng móng của trâu bò.
Tiếp xúc với nước bẩn: Trâu bò thường xuyên phải đi qua các môi trường bẩn như đầm lầy, ao hồ, điều này có thể là nguyên nhân tiềm ẩn gây bệnh cước chân.
Tổn thương móng: Móng bị tổn thương, chẻ ngang hoặc có vết thương do va đập hoặc do không chăm sóc móng đúng cách.
Vi khuẩn và nấm: Các loại vi khuẩn như Fusobacterium necrophorum và các loài nấm như Dermatophilus congolensis thường là nguyên nhân gây nhiễm trùng.
3.Triệu chứng
Chân trâu, bò sưng ở độ nhẹ có hiện tượng đi chậm chạp, khập khiễng không vững có thể sưng ở một chân hoặc hai châ
Nặng có thể làm cho chân trâu, bò bị phù nề, dịch xuất tiết nhiều gây sưng tấy, nhiều vết tím đỏ, hoặc có vết nứt da, rỉ nước màu vàng, hệ thống mao mạch ở vùng bàn chân bị tắc làm cho vùng da xung quanh móng và bàn chân bị hoại tử khiến trâu, bò què nằm tại chỗ.
4. Phòng bệnh̀ng bệnh
Khi thời tiết lạnh ẩm kéo dài, nhiệt độ ngoài trời dưới 10 độ C thì không thả trâu bò ngoài trời, cần đưa trâu, bò về chuồng nuôi nhốt và chăm sóc.
Thực hiện công tác chống rét bằng cách che kín chuồng trại, tránh gió lùa và đặc biệt phải giữ cho nền chuồng luôn khô sạch.
Chăm sóc cho đàn trâu, bò tốt để nâng cao sức đề kháng chống bệnh tật và chống lại thời tiết giá rét.
Những ngày thời tiết xuống dưới 10 độ C thì cần pha nước ấm với muối 0,9% cho trâu, bò uống.
Chuồng trại: Gia cố, tu sửa, đảm bảo chuồng trại đủ ấm, cao ráo, sạch sẽ, không bị gió lùa, mưa hắt làm ẩm ướt nền chuồng. Cần dự trữ chất đốt như củi, trấu, mùn cưa… để sưởi ấm cho trâu, bò (lưu ý cần có ống khói ra ngoài để tránh ngạt).
5. Điều trị
Khi trâu, bò bị cước chân cần phải rửa sạch, lau khô chân cho chúng. Dùng gừng hoặc riềng giã nhỏ, sao nóng cho vào túi vải chườm vào chỗ sưng để tan máu tụ nhằm lưu thông mạch máu trở lại, 1 ngày thực hiện 2 lần.
Nếu chỗ cước đã nhiễm trùng phải rửa sạch bằng dung dịch thuốc tím 1% sau đó rắc bột Tetracycline hoặc Sunfamid.
Trường hợp bệnh nặng, cần cắt bỏ những tổ chức hoại tử sau đó mới điều trị. Tiêm bắp một trong các loại kháng sinh sau NASHER AMX 1ml/10 – 15kg trọng lượng/ngày; kết hợp hạ sốt giảm đau và trợ sức, trợ lực: tiêm bắp NASHER TOL 1mL/20 kg TT, ACTIVITON 1ml/15-20Kg TT . Điều trị liên tục 5 – 7 ngày sẽ khỏi bệnh.

BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN GIA SÚC
Trâu, bò mệt mỏi, ủ rũ, lông dựng, sốt 41-42OC kéo dài trong 2-3 ngày, sau đó xuất hiện các mụn nước ở niêm mạc miệng, chân và da chỗ mỏng, lưỡi dày lên, sưng to khó cử động, sau vài ngày mụn nước vỡ ra làm cho miệng bị loét, trâu bò không ăn được, dịch viêm từ các mụn nước hoà với nước dãi liên tục chảy ra giống như bọt xà phòng. Trong mũi xuất hiện nhiều mụn nước, nước mũi chảy ra có mùi hôi thối.
Ở chân, nhất là xung quanh vành móng cũng xuất hiện rất nhiều mụn nước làm thành những vết loét. Nếu vệ sinh không tốt sẽ bị nhiễm trùng tạo thành những ổ loét làm móng bị bong ra.
ở vú gia súc cái, thường bị mọc mụn ở núm, đầu vú, toàn bộ vú bị sưng, đau, con cái đang nuôi con sẽ ít cho con bú vì đau và sữa bị cạn dần.
Thể nặng: bê <6 tháng có thể chết đột ngột do thoái hóa cơ tim.
Con vật tiêu chảy nặng, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm phế quản và viêm phổi.

BỆNH CẢM NẮNG TRÊN TRÂU BÒ
Con vật có biểu hiện choáng váng, đi đứng siêu vẹo; kiểm tra niêm mạc mắt tím bầm, da khô, gia súc có biểu hiện khó nuốt.
Con vật sốt cao 40 – 41,5 0C,
Kiểm tra thấy gia súc thở khó, tần số hô hấp và tim mạch tăng, đồng tử mắt lúc đầu dãn rộng, sau đó thu hẹp rồi mất phản xạ.
Giai đoạn sau: Bệnh tiến triển nặng hơn.
Bệnh súc có biểu hiện co giật, điên cuồng, sợ hãi; mắt đỏ ngầu, lồi ra ngoài; mạch nhanh và yếu.
Gia súc ngày càng khó thở, thở giật cục; sau cùng đổ ngã tự nhiên, hôn mê, co giật mất phản xạ rồi chết.
Gia súc chết với các bệnh tích sung huyết não, màng não, các cơ quan nội tạng sung huyết, xuất huyết.
Triệu chứng khi bị cảm nóng
Giai đoạn đầu:
Con vật thở nhanh, toàn thân vã mồ hôi, đồng tử mắt dãn rộng.
Kiểm tra thấy tim đập nhanh, thân nhiệt tăng, niêm mạc mắt sung huyết, đỏ ửng, các mạch quản nổi rõ.
Giai đoạn sau:
Con vật rất khó thở, hóp bụng để thở.
Con vật có hiện tượng co giật cơ môi, cơ nhai, nôn mửa.
Con vật điên cuồng, hôn mê, co giật rồi chết,
Khi chết sùi bọt mép, có khi lẫn máu. Kiểm tra thấy máu khó đông, màng não, phổi bị sung huyết và phù.

BỆNH CƯỚC CHÂN Ở TRÂU BÒ
Đầu tiên da vùng chân con vật dày cộm lên, vùng sưng có hiện tượng xung huyết, da bị nứt nẻ.
Sau đó lớp biểu bì bị bong ra có chảy dịch mầu vàng, lộ ra một lớp tổ chức mầu đỏ thẫm, nếu vết thương sâu làm con vật què nằm tại chỗ, da và tổ chức dưới da bị hoại tử từng đám có chỗ tím bầm, có chỗ phồng rộp lên.
Cuối cùng các tổ chức hoại tử ăn sâu xuống thành hoại thư làm lộ ra cả những sợi cơ và xương.
Bệnh nặng, gây biến chứng có thể làm tắc mạch máu gây xung huyết ở phổi và bầm huyết ở não.
Phòng bệnh
Để đề phòng bệnh này khi nhiệt độ dưới 12 độ C bà con không nên thả trâu bò ở ngoài, không bắt trâu bò làm việc ngoài ra cần chăm sóc nuôi dưỡng để nâng cao sức đề kháng cho trâu bò.
Luôn giữ chuồng trại được khô ráo, sạch sẽ, che chắn kín gió, giữ ấm cho trâu bò và đảm bảo vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi.
Dùng các vật liệu để giữ ấm cho gia súc như bao tải hoặc có thể tăng nhiệt độ của chuồng trại lên bằng cách đốt lửa sưởi ấm cho trâu bò. Bà con lưu ý khi đốt lửa sưởi ấm cần chuẩn bị ống thông khói để trâu bò không bị ngạt.
Tiêm phòng đầy đủ cho trâu bò hàng năm. Định kỳ kiểm tra vệ sinh khử trùng chuồng trại, môi trường chăn nuôi và tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu bò trước mùa mưa rét:
IVERTIN : Liều tiêm dưới da cổ liều 0.2mg/kg P, tương đương 1ml/50kg P.
GENDAZEL: sử dụng đường uống liều 6ml/ 10 kg thể trọng.
Dự trữ thức ăn như rơm, cỏ khô để cho trâu bò ăn uống đầy đủ và bổ sung thêm các loại thức ăn tinh như cám gạo, bột ngô, sắn với lượng thức ăn tinh khoảng 2kg/ngày.
Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.

CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ TRÊN TRÂU BÒ
Bò có hiện tượng bụng trái bình to, hay nhìn về phía bụng, bồn chồn đứng kg yên, chúng ta có thể nghĩ tới vấn đề về dạ cỏ trên động vật nhai lại.
1.Nguyên nhân
Do gia súc ăn nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non... đã lên men sinh hơi nhanh, gia súc không kịp thoát hơi gây chướng căng dạ cỏ. Đặc biệt, vào mùa khô, gia súc ăn nhiều thức ăn khô như rơm, cỏ khô, nên hệ vi sinh vật dạ cỏ thích nghi với tiêu hóa nhiều thức ăn khô, đến đầu mùa mưa, gia súc ăn nhiều cỏ non đột ngột sẽ gây bệnh.
Do Gia súc ăn các thức ăn bị mốc, thức ăn có chứa chất độc làm cho nhu động dạ cỏ kém
Do gia súc làm việc quá mức ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa
Do chăn thả, lao động vào lúc giá rét, có nhiều sương muối, kế phát từ cảm nắng, bị què, bại liệt, ốm lâu ngày vật không đi lại, nằm lì một chỗ.
Do kế phát từ bệnh liệt dạ cỏ, dạ cỏ bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm vật không ợ được hơi, viêm màng bụng.
2.Cơ chế sinh bệnh
Do thức ăn lên men chứa nhiều nước làm hơi sản sinh nhiều, làm rối loạn tuần hoàn ở vách dạ cỏ và ức chế thần kinh ảnh hưởng đến sự nhai lại và ợ hơi, vách dạ cỏ bị thiếu máu, nhu động dạ cỏ giảm.
Hơi tích lại làm thể tích dạ cỏ tăng lên đột ngột, ép lên cơ hoành làm gia súc ngạt thở.
Máu về tim bị trở ngại gây ứ huyết ở não và tĩnh mạch cổ, gan cũng bị dạ cỏ chèn ép gây thiếu máu làm cơ năng giải độc của gan giảm đồng thời những chất phân giải trong dạ cỏ kích thích vào vách dạ cỏ gây cho con vật những cơn co thắt.
Đến cuối kì bệnh, dạ cỏ bị tê liệt, quá trình tống hơi ra ngoài hoàn toàn bị ngừng trệ nên gia súc lâm vào trạng thái trầm trọng, gia súc có thể chết do ngạt thở và do tuần hoàn trở ngại.
3.Triệu chứng
Thể cấp tính
Bệnh xuất hiện rất nhanh: sau khi ăn 30 ph – 1h
Gia súc không yên, bồn chồn
Bụng trái ngày càng phình to
Triệu chứng đau bụng: Gia súc luôn ngoảnh lại nhìn bụng, vẫy đuôi, cong lưng, hai chân thu vào bụng.
Vùng bụng trái sưng to, hõm hông trái căng phồng.
Gõ vào vùng bụng trái (hõm hông trái) thấy âm trống chiếm ưu thế, âm đục và âm bùng hơi mất. Nếu khí tích lại nhiều trong dạ cỏ, khi gõ còn nghe thấy âm kim thuộc.
Nghe vùng dạ cỏ thấy nhu động dạ cỏ lúc đầu tăng sau đó giảm dần rồi mất hẳn, chỉ nghe thấy tiếng nổ lép bép do thức ăn lên men.
Bệnh càng nặng, gia súc đau bụng càng rõ rệt, vã mồ hôi, uể oải, hay sợ hãi, con vật ngừng ăn, ngừng nhai lại.
Gia súc khó thở, tần số hô hấp tăng, dạng hai chân trước để thở, hoặc thè lưỡi để thở và con vât chết do ngạt thở.
Tĩnh mạch cổ phồng to, tim đập nhanh, mạch yếu, huyết áp giảm, gia súc đi tiểu liên tục.
Thể mãn tính
Bệnh thường xảy ra mang tính chu kỳ.
Tức là: sau 1 thời gian có chướng hơi gia súc khỏi bệnh nhưng nếu thay đỏi thức ăn, khí hậu, thời tiết thì bệnh lại xuất hiện.
Vùng hõm hông trái chướng nhẹ, bệnh thường kéo dài, lúc tiêu chảy lúc táo bón.
4.Bệnh tích
Gia súc có hiện tượng chảy máu ở mũi và hậu môn.
Lòi dom.
Mồm đầy bọt.
Thực quản vít chặt, thức ăn lên tới tận miệng.
Phổi sung huyết, máu tím bầm.
5.Chẩn đoán
Cần nắm được đặc điểm chính của bệnh: bệnh tiến triển nhanh (thường sau khi ăn 2 giờ), vùng bụng trái căng phồng, trong dạ cỏ chứa đầy hơi, gia súc khó thở, tĩnh mạch cổ phồng to.
Cần chẩn đoán phân biệt với dạ cỏ bội thực: ở bệnh bội thực dạ cỏ, bệnh tiến triển chậm (thường xuất hiện sau khi ăn từ 6 - 9 giờ), khi gõ vùng dạ cỏ xuất hiện âm đục tuyệt đối.
6.Kiểm soát
Không cho gia súc ăn quá nhiều cỏ non hoặc cây họ đậu, thức ăn nhiều chất nhày như rau lang, rau muống non, thức ăn dễ lên men, sinh hơi khác.
Luôn thực hiện cân đối khẩu phần thức ăn tươi và thức ăn khô, thức ăn tinh và thúc ăn thô để hạn chế quá trình lên men.
Khi cho ăn thức ăn là cỏ, thân cây non, ướt nên để ráo nước hoặc phơi qua mới cho gia súc ăn.
Không cho gia súc ăn thức ăn bị mốc, đang lên men hoặc lẫn chất độc.
Khi thay đổi thức ăn nên thay đổi từ từ để gia súc kịp thích nghi, không bị rối loạn tiêu hóa.
Khi gia súc mắc bệnh liệt dạ cỏ, bội thực, tắc thực quản, viêm họng làm gia súc không ợ hơi được, viêm màng bụng... cần kịp thời điều trị để tránh kế phát bệnh chướng hơi dạ cỏ.
Thường xuyên cho gia súc vận động, không nuôi nhốt gia súc nhiều ngày trong chuồng nuôi.
7.Xử lý bệnh
Trước tiên, cho gia súc nhịn ăn, đứng 2 chân trước lên cao hoặc đi lên dốc để dạ cỏ không chèn ép phổi và tim.
Sau đó, cho gia súc uống 1 trong các loại dung dịch:
Dung dịch MgSO4 với liều 50-100g/con hòa với 0,5 - 1 lít nước.
Nước dưa chua: 0,5 - 1 lít.
Bia hơi: 0,5-2 lít.
Đồng thời, xoa bóp vùng dạ cỏ để kích thích ợ hơi. Có thể giã gừng tẩm vào rơm, vải thô, chà sát liên tục 30 – 60 phút ở hông bên trái. Làm như vậy nhiều lần nhằm tăng nhu động dạ cỏ.
Nắm lưỡi gia súc kéo nhịp nhàng lệch về một bên nhiều lần để kích thích ợ hơi.
Có thể dùng ống mềm (bằng cao su hoặc nhựa mềm) thông qua thực quản vào dạ cỏ, đồng thời dùng tay ấn mạnh vào hõm hông trái để hơi thoát ra ngoài. Moi phân ở trực tràng ra để thoát hơi.
Tăng cường nhu động dạ cỏ bằng cách tiêm Pilocarpine (đối với bệnh chướng hơi kế phát sau bệnh liệt dạ cỏ); tiêm thuốc trợ sức, trợ lực, liều theo hướng dẫn của hãng thuốc.
* Nếu dùng các biện pháp trên không hiệu quả, dạ cỏ vẫn chướng căng, nguy hiểm đến tính mạng gia súc thì phải cấp cứu bằng cách chọc troca.
Sát trùng vị trí giữa hõm hông trái của gia súc, chọc mạnh troca qua thành bụng, rút lõi từ từ, bịt đầu thoát của troca để hơi thoát từ từ, nếu cho hơi thoát nhanh thì áp lực máu ở não bị giảm đột ngột, gia súc bị sốc có thể chết.
Giữ troca cho hơi ra hết, để gia súc khỏe lại, khi rút troca phải cho lõi vào, để thức ăn không tiếp xúc vết thương gây viêm phúc mạc.
Kháng sinh tiêm phòng kế phát- giảm ảnh hưởng các bệnh vi khuẩn : GENTAMYCIN 4% tiêm hoặc bơm thẳng vào dạ cỏ.
Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.

BỆNH SÁN LÁ GAN Ở TRÂU BÒ
Thể cấp tính:
Trâu, bò bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó ỉa chảy dữ dội, phân lỏng màu vàng xám, mùi tanh. Chỉ vài ngày sau, súc vật bệnh nằm bệt không đi lại được, nếu không được điều trị kịp thời con vật có thể chết trong tình trạng mất nước, rối loạn điện giải và kiệt sức làm trụy tim mạch , khô máu. Hiện tượng này thường xảy ra ở bê, nghé dưới 1 năm tuổi.
Thể mãn tính:
Trâu, bò bị bệnh sẽ gầy dần, cơ thể suy nhược, ăn ít, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, dễ rụng, thường thủy thũng ở mi mắt, yếm ngực, nhai lại yếu, thiếu máu, chướng bụng nhẹ, ỉa chảy kéo dài, có khi ỉa táo bón, đôi khi có triệu chứng thần kinh. Gia súc cái mất dần khả năng sinh sản và cho sữa. Trâu, bò cho sữa bị bệnh thì lượng sữa giảm tới 20 – 50%. Trâu, bò có thể chết do kiệt sức.
Người chăn nuôi cũng cần phân biệt các triệu chứng trên với bệnh ký sinh trùng đường máu đó là: trâu bò mắc bệnh ký sinh trùng đường máu cũng có các biểu hiện như: gầy yếu, thiếu máu, sản lượng sữa giảm, hoàng đản, tiêu chảy. Nhưng bệnh ký sinh trùng đường máu trâu, bò thường sốt 40 – 420C, khi sốt cao thường thể hiện triệu chứng thần kinh: quay cuồng, đi vòng tròn, run rẩy từng cơn. Trong khi bệnh sán lá gan trâu, bò thường ỉa chảy kéo dài, viêm ruột, phân lỏng xám có mùi tanh.

TRÚNG ĐỘC SẮN TRÊN BÒ
Bò bị ngộ độc sắn do bên trong sắn chứa 1 lượng độc tố HCN
1.Nguyên nhân gây bệnh
Trâu bò ăn quá nhiều lá sắn và củ sắn tươi
Trong khẩu phần ăn chứa nhiều sắn nhưng chế biến không đúng quy cách.
Do gia súc đói lâu ngày đột nhiên ăn nhiều sắn.
Trong lá và củ sắn ngoài các chất dinh dưỡng cũng chứa một lượng độc tố (HCN) đáng kể. Các giống sắn ngọt có 80–110 mg HCN/kg lá tươi và 20–30 mg/kg củ tươi. Các giống sắn đắng chứa 160–240 mg HCN/kg lá tươi và 60–150 mg/kg củ tươi.
2.Triệu chứng
Có biểu hiện mệt mỏi, bỏ ăn, bồn chồn đứng nằm không yên, miệng chảy nước dãi, không nhai lại, thân nhiệt không quá cao (38,50C).
Niêm mạc tím tái, thở khó khăn, tim đập nhanh nhưng yếu, bốn chân và tai lạnh, cuối cùng con vật hôn mê, co giật đồng tử mở rộng và chết.
Có thể chết rất nhanh trong trường hợp cấp tính chỉ sau khi ăn nửa giờ.
3.Bệnh tích
Mổ khám gia súc bị ngộ độc sắn thường có các biểu hiện rõ nhất là niêm mạc ruột bị bong ra, tim ứ máu, màu sắc máu thay đổi, máu có màu đỏ thắm (bình thường máu có màu đỏ thẫm hoặc đỏ tươi).
Trong dạ cỏ của trâu, bò còn có nhiều thức ăn từ sắn.
4.Kiểm soát
Cần chú ý không cho gia súc ăn sắn tươi, chỉ cho ăn khi đã qua chế biến, cho ăn với lượng vừa phải (khoảng 10-40% trong khẩu phần), cân đối với lượng cỏ, bổ sung các sản phẩm từ sắn sau khi gia súc đã ăn các thức ăn khác.
Chú ý: Không để gia súc tự do vào nương sắn ăn lá và củ tươi dễ gây ngộ độc
5.Xử lý bệnh
Trong trường hợp nguy kịch phải nhanh chóng tiêm truyền tĩnh mạch dung dịch đường glucose.
Loại trừ chất độc trong đường tiêu hoá bằng cách gây nôn cho gia súc càng nhanh càng tốt.
Sau đó cho uống 10-20 gam bột than củi tán nhỏ mịn hoặc 2 lòng trắng trứng gà.
Cần rửa ruột cho gia súc bằng cách thụt nước ấm vào hậu môn.
Giải độc trong máu bằng cách tiêm thuốc xanh mêtylen 1% (tức 10 gam thuốc pha trong 1 lít nước). Liều tiêm cho lợn là 10-20ml, trâu bò, ngựa 40-50ml, có thể tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. Cách giải độc tốt nhất trong máu là tiêm truyền tĩnh mạch bằng nước sinh lý ngọt, liều tiêm từ 200-500ml.
Ngoài ra có thể cho gia súc uống nước đường, nước mía, mật mía có tác dụng rất tốt, hoặc có thể dùng nước rau má, lá khoai lang giã nát, cháo đậu đen, đậu xanh... cần phối hợp tiêm các thuốc trợ lực, trợ sức như: ACTIVITON Liều tiêm bắp hoặc dưới da 1ml/10kgP
Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng để vật nuôi nhanh bình phục.
Sau khi bình phục Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.

BỆNH LAO BÒ
Lao phổi
Thể bệnh hay gặp, với các triệu chứng ho, lúc đầu ho khan sau ho ướt, ho từng cơn.
Con vật ho khi gõ lồng ngực, bị đuổi chạy, uống nước lạnh, nằm xuống, đứng lên.
Ho ra đờm con vật lại nuốt vào, đờm lẫn máu mủ.
Bò gầy gò, lông dựng, da khô, mệt mỏi, ăn ít, thở khó ngày càng tăng. Nghe và gõ vùng phổi thấy âm dục phân tán, âm bùng hơi và âm ran ướt.
Lao hạch
Thể bệnh khá phổ biến. Nếu lao ở phổi thì hạch phổi cũng bị lao, hạch bị sưng thành từng cục cứng.
Các hạch hay bị lao: hạch dưới hàm, hạch trước vai, hạch trước đùi, hạch ruột.
Lao vú
Tùy mức độ bệnh mà bầu vú hoặc núm vú có thể bị biến dạng. Sờ vào có thể thấy những hạt lao lổn nhổn.
Hạch vú sưng to, cứng nổi cục.
Sản lượng sữa giảm.
Lao đường tiêu hóa:
Phổ biến lao ở ruột, gan.
Gia súc tiêu chảy kéo dài, gầy dần, có chướng hơi nhẹ và rối loạn tiêu hóa.

TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ
Trâu, bò thường mắc bệnh ở 3 thể sau đây:
Thể ác tính
Thể này thường ít gặp. Trâu, bò phát bệnh rất nhanh.
Con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41 - 42°C và trở nên hung dữ, điên loạn, đập đầu vào tường và chết trong vòng 24 giờ. Bê nghé 3 - 18 tháng thể hiện triệu chứng thần kinh: giãy giụa, ngã vật xuống rồi chết, có khi con vật đang ăn bỗng chạy lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống rồi lịm đi.
Thể cấp tính
Thể này xảy ra phổ biến ở trâu, bò. Thời gian ủ bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 - 42°C. Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám. Nước mắt, nước mũi chảy liên tục. Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là hạch dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là bệnh "trâu bò hai lưỡi". Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thuỷ thũng, làm cho con vật đi lại khó khăn.
Vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp.
Một số trâu bò bị bệnh thể đường ruột, lúc đầu phân táo bón, sau đó ỉa chảy dữ dội, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột. Bụng con vật chướng to do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng.
Lúc sắp chết, con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc. Bệnh tiến triển 3 - 5 ngày. Tỷ lệ chết 90 - 100%. Nếu bệnh chuyển sang nhiễm trùng máu thì con vật sẽ chết trong 24 - 36 giờ.
Thể mạn tính
Con vật mắc bệnh ở thể cấp tính, nếu không chết, bệnh sẽ chuyển thành mạn tính, vật bệnh thể hiện viêm ruột mạn tính: lúc ỉa chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm cho con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mạn tính.
Bệnh tiến triển trong vài tuần. Con vật có thể khỏi bệnh, các triệu chứng nhẹ dần, nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức.

VIÊM TỬ CUNG TRÂU BÒ
Tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết mà có các triệu chứng lâm sàng khác nhau. Căn cứ mức độ viêm nặng hay nhẹ có thể phân loại như sau:
Viêm nội mạc tử cung mức độ 1 (Viêm cata đơn)
Gia súc động dục bình thường, dịch tiết khi động dục có thể có những gợn trắng ở niêm dịch, niêm dịch khác thường, không đồng nhất. Cổ tử cung sưng, tụ huyết, khám trực tràng không thể phân biệt được tử cung bị bệnh hay động dục.
Viêm nội mạc tử cung mức độ 2 (Viêm nội mạc niêm dịch có mủ)
Gia súc không động dục bình thường, niêm dịch có mủ, cổ tử cung mở rộng hay hé mở và sung huyết, sừng tử cung cong, cứng, dày. Buồng trứng bình thường, có thể vàng lưu bệnh lý.
Viêm nội mạc tử cung mức độ 3 (Viêm nội mạc có mủ)
Viêm tử cung mức độ 3 bao gồm: Viêm cổ tử cung, viêm âm đạo và không chỉ nội mạc tử cung bị rối loạn sinh lý và tổn thương mà cả cơ trơn cũng bị viêm. Gia súc ngưng động dục, mủ chảy ra ngoài, nhiều nhất là lúc nằm. Cổ tử cung sưng, mở rộng hay hé mở, niêm mạc âm đạo sung huyết và có phủ màu trắng hay trắng vàng. Khám trực tràng thấy sừng tử cung sưng to, thành tử cung dày, tử cung kéo dài (nhất là trâu, bò cái già), buồng trứng có thể vàng lưu bệnh lý.
Viêm tử cung tích mủ
Gia súc không động dục và thường nhầm với gia súc có chửa, có thể có trường hợp chảy mủ ra ngoài. Khám âm đạo thấy âm đạo kéo dài về phía xoang bụng vì sức nặng của tử cung chứa mủ. Cổ tử cung có thể đóng lại và bịt kín bằng dịch mủ như có chửa hoặc bị phủ chất nhầy, mủ.
Cổ tử cung và âm đạo viêm, khám trực tràng thấy hai sừng tử cung tăng dung tích và kích thước. Tử cung sa xuống xoang bụng nhiều hay ít tùy thuộc và lượng mủ tích trong đó (có trường hợp 15-20 lít mủ). Khi khám có thể nhầm với có chửa nhưng không thấy có thai, không có núm nhau, không cảm nhận có nhịp đập của động mạch giữa tử cung, ở buồng trứng có thể vàng tồn tại.

BỆNH GIUN ĐŨA BÊ NGHÉ
Trong thời gian ấu trùng di hành bê, nghé có thể bị viêm phổi, ho, sốt. khi giun về cư trú ở ruột phát triển thành bệnh, bê nghé có dáng đi lù đù, chậm chạp, lưng cong, cúi đầu, đuôi cụp, thân nhiệt tăng cao 40-41 độ C
Bê nghé ăn ít hoặc bỏ ăn, nằm 1 chỗ, hơi thở yếu
Biểu hiện đau bụng: bê nghé nằm ngửa, dùng chân đạp vào bụng, dãy dụa, lắng nghe vùng bụng thấy tiếng sôi bụng
Tiêu chảy: ban đầu tiêu chảy, phân lổn nhổn, màu đen chuyển dần sang mầu vàng, có lẫn máu và chất nhờn, rồi chuyển sang màu vàng sẫm, cuối cùng có màu trắng. phân có mùi tanh khắm rất thối, nhiều nước dính ở hậu môn, xung quanh mông và khoeo chân
Thể trạng: gầy sút nhanh, lông xù niêm mạc nhợt nhạt mắt lờ đờ, mũi khô, hơi thở thối

BỆNH UNG KHÍ THÁN TRÂU BÒ
Trâu, bò thường mắc bệnh ở 2 thể sau đây:
Thể quá cấp tính
Bệnh tiến triển ngay từ 3 – 6 giờ. Con vật chết rất nhanh, chết đột ngột đặc biệt nếu cơ tim bị tổn thương
Con vật đang ăn cỏ hoặc cày kéo đột nhiên ngã quỵ, run rẩy rồi chết mà chưa có biểu hiện gì rõ rệt. Một số con có ung ở đùi, bụng, phát triển rất nhanh. Nhiều trường hợp lấy ngón tay ấn vào chỗ sưng nghe thấy có tiếng kêu lạo xạo. Tỷ lệ chết ở bê nghé đến 90%.
Thể cấp tính
Bệnh tiến triển trong 2-3 ngày đến 1 tuần. Con vật thân nhiệt không tăng đột ngột, thường giữ mức trung bình 39-40 độ, mệt mỏi nhưng vẫn ăn uống đến lúc gần chết. Trên bắp thịt vai, mông, đùi, bụng xuất hiện các ung, chỗ sưng không cố định, có thể di chuyển từ vai mông xuống đùi, bụng, ức, bẹn. Khối ung lúc đầu nóng, tấy đau, sau ít đau hơn, to dần lên, da căng, bùng nhùng, ấn tay vào có tiếng khí kêu lạo xạo. Khối ung có thể vỡ chảy nhiều nước màu hồng nhạt. Khi có khối ung ở đùi làm con vật đi lại khó khăn, khối ung ở cổ làm nó thè lưỡi ra ngoài. Sau 2 – 3 ngày thân nhiệt hạ dần rồi chết. Có trường hợp bị liệt 4 chân, bí đái, bí ỉa rồi chết.

BỆNH TỬ CUNG LỘN BÍT TẤT TRÊN BÒ (SA TỬ CUNG)
Các trường hợp tử cung lộn bít tất trên bò có thể xuất hiện nhiều dạng khác nhau.
Trường hợp âm đạo lộn ra ngoài thể không hoàn toàn: khi mới xuất hiện, bộ phận âm đạo lộn ra ngoài có màu đỏ to, kích thước bằng nắm tay hoặc lớn hơn một ít. Bộ phận này chỉ nhìn thấy khi gia súc nằm xuống, khi gia súc đứng dậy thì bộ phận đó lại tụt và trong xoang chậu.
Trường hợp bệnh tiếp tục phát triển thì bộ phận âm đạo lộn ra ngoài sẽ to dần lên, lúc này khi con vật đứng dậy bộ phận âm đạo cũng không tụt vào trong ở dưới thành âm đạo mà còn lộ cả ống dẫn niệu và một phần của bàng quang.
Trường hợp một phần đầu mút sừng tử cung bên có thai bị lộn vào trong xoang tử cung và lồng vào nhau thì con vật hầu như không có triệu chứng trong quá trình hồi phục, tử cung sẽ trở lại bình thường.
Trường hợp cả hai sừng tử cung và cả thân tử cung bị lộn trái lồng qua tử cung vào âm đạo, con vật xuất hiện triệu chứng cục bộ và toàn thân. Thành bụng co bóp, con vật cong lưng, cong đuôi rặn.Trong khi rặn con vật thải ra một ít phân, nước tiểu, biểu hiện đau đớn, khó chịu. Trâu bò giảm ăn, thậm chí bỏ ăn. Kiểm tra qua đường sinh dục phát hiện đầu mút sừng tử cung lồng vào thân tử cung hay toàn bộ tử cung lồng vào âm đạo.
Trường hợp toàn bộ âm đạo bị lộn ra ngoài, tử cung lộn bít tất, phần bộc lộ ra ngoài có màu hồng. Lúc đầu chỉ âm đạo và tử cung bên có thai lộn ra ngoài, về sau cả hai sừng, thân tử cung đề bộc lộ ra ngoài. Trên niêm mạc tử cung còn dính lại một số núm nhau con và nhiều núm nhau mẹ. Gia súc đau đớn, đứng lên nằm xuống liên tục, tử cung bị tổn thương, sây sát, xuất huyết và nhiễm khuẩn.
Trâu bò chết sau 5 - 6 ngày

BỆNH SÁT NHAU TRÊN BÒ
Sau khi đẻ 1 khoảng thời gian nhất định mà nhau thai không bị tống ra ngoài thì coi là bị sát nhau. Với bò, khoảng thời gian ra nhau bình thường là 4-6 giờ( không quá 12 giờ).
1.Một số nguyên nhân gây sát nhau trên bò
Nguyên nhân gây bệnh sát nhau ở gia súc là do tử cung co bóp yếu, sức rặn của con mẹ giảm dần do:
- Trong thời gian có thai gia súc mẹ thiếu vận động nhất là giai đoạn cuối, khẩu phần ăn thiếu khoáng đặc biệt thiếu canxi.
- Con mẹ quá gầy hoặc quá béo, đẻ song thai (với gia súc đơn thai) hay đẻ quá nhiều thai (với gia súc đa thai).
- Bào thai quá to, dịch thai quá nhiều… từ đó làm cho cổ tử cung dãn quá độ, làm giảm đàn tính đàn hồi và sự co bóp.
- Ngoài ra tất cả những trường hợp đẻ khó đều ảnh hường trực tiếp đến quá trình co bóp tử cung, làm giảm sức rặn của con mẹ dẫn tới nhau thai con không thể tách ra khỏi niêm mạc tử cung gia súc mẹ.
Nhau con và nhau mẹ dính chặt với nhau:
- Khi viêm nội mạc tử cung, viêm màng thai, nhau thai con và nhau thai mẹ dính chặt với nhau nên mặc dù tử cung co bóp bình thường nhưng nhau thai mẹ và nhau thai con không thể tách rời nhau ra được.
- Ngoài ra khi gia súc mẹ mắc bệnh Brucellosis, Vibriosis nhau mẹ và nhau con dính chặt với nhau.
- Riêng ở trâu bò do cấu tạo của núm nhau mẹ và nhau con rất đặc biệt, chúng liên kết với nhau theo hình thức cài răng lược khá chặt chẽ nên sau khi sô thai chỉ cần tử cung co bóp yếu cũng dễ dàng gây sát nhau.
2.Triệu chứng
Tùy vào mức độ của bệnh sát nhau ở gia súc mà toàn bộ nhau thai còn nằm trong tử cung hoặc một phần màng thai, núm thai con đã tách khỏi núm nhau mẹ và được đẩy ra treo lòng thòng ở mép âm môn, có khi một phần của màng ối đã rời hẳn ra ngoài.
Trâu bò xuất hiện trạng thái đau đớn, bồn chồn, khó chịu trong trang thái bị kích thích và cong lưng, cong đuôi mà rặn.
Sau khi sổ thai 2 - 3 ngày mà nhau thai không được đẩy ra ngoài, các loại vi khuẩn phát triển mạnh trong tử cung làm cho nhau thai bị thối rữa và từ cơ quan sinh dục luôn thải ra hỗn dịch máu, mủ, niêm dịch, mảnh vụn tổ chức tế bào bị phân giải có mùi hôi thối, khó chịu.
Càng về sau mức độ biến đổi của nhau thau càng nặng hơn và càng hôi thối hơn.
Lúc này con mẹ xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt cao, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm.
Nếu thời gian càng lâu mà không được can thiệp khi tình trạng con vật trở lên trầm trọng hơn: ngừng nhai lại, chướng bụng, đầy hơi, ngừng tiết sữa, dẫn đến nhiễm trùng huyết hoặc huyết nhiễm mủ và con vật có thể bị chết.
3.Chẩn đoán
Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng cục bộ và toàn thân, quan sát trực tiếp qua âm đạo.
Trường hợp sát nhau hoàn toàn chỉ nhìn thấy một màng mỏng mà trong đó chính là màng ối và màng niệu còn nằm trong âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn.
Trường hợp sát nhau không hoàn toàn nhìn thấy một số núm nhau con (ở trâu bò)
Trường hợp sát nhau từng phần, quan sát phần nhau thai đã ra ngoài, trải nó lên mặt đất có thể phát hiện được những chỗ màng thai bị đứt, phần màng thai còn nằm lại trong tử cung.
4.Kiểm soát
Đối với trâu bò, quá 14 giờ sau sổ thai mà nhau thai không được thải ra ngoài cần phải can thiệp.
Bước 1: Vệ sinh
Môi trường: Đảm bảo môi trường thông thoáng, không ẩm ướt
Khu đẻ của Trâu bò được vệ sinh sạch sẽ trước khi con vật vào đẻ, tránh các vi khuẩn cơ hội
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi. Hoặc sử dụng PARADISE liều 1g/1-2lit nước
Bước 4: Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.
5.Xử lý bệnh
Bước 1: Vệ sinh
Khu vực chăn nuôi; Ngoài chuồng nuôi : đảm bảo vệ sinh cho
Môi trường: Đảm bảo về mật độ nuôi, thông thoáng, đầy đủ nhiệt : Mát về mùa hè, ấm về mùa đông.
Bước 2: Sát trùng
Trong chuồng: Sát trùng định kỳ bằng KLORTAB,1 viên được hòa tan trong 10 lít nước ấm. Hoặc DESINFECT GLUTAR ACTIVE , 10 lít dung dịch cho 75m² (chỉ dùng cho chuồng trống).
Rắc NOVA X DRY lên sàn chuồng chăn nuôi giúp giảm amoniac và tạo môi trường bất lợi cho sinh sản của ruồi.
Bước 3: Xử lý triệu chứng
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn; NASHER FU liều 1 g/ 25 kg/ngày dùng liên tục 3-5 ngày
Giải độc cấp: SORAMIN/LIVERCIN giúp tăng cường chức năng gan-thận và giải độc, pha 1ml/1-2lít nước uống.
Tăng miễn dịch: AURASHIELD L, được thêm vào nước uống với liều lượng 1L - 4 L trên 1.000 lít nước.
Bước 4: Xử lý nguyên nhân bệnh
Can thiệp bảo tồn
Sử dụng các loại thuốc kích thích tử cung co bóp để đẩy nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài.
Sử dụng Oxytoxin 30 - 40UI (6 - 8ml) tiêm dưới da ngày 2 lần.
Trường hợp tử cung mất trương lực cần tiêm Oestrogen, sau 2 - 3 giờ tiêm Oxytoxin hoặc Pituitrin,….
Truyền dung dịch nước muối 10% 500ml vào tĩnh mạch kết hợp thuốc bổ, trợ sức trợ lực cho con vật. Tiêm bắp kháng sinh hoạt phổ rộng trong 3 - 5 ngày đề phòng hiện tượng nhiễm trùng cho tử cung.
Dùng dung dịch thuốc sát trùng ở nồng độ thích hợp thụt rửa tử cung ngày 1 lần.
Sau khi rửa sạch, có thể đặt các loại kháng sinh dạng viên vào tử cung hoặc đặt trực tiếp kháng sinh vào.
Can thiệp bằng thủ thuật bóc nhau
Cố định tư thế cho gia súc, buộc đuôi con vật sang một bên
Sử dụng dung dịch sát trùng nhẹ để rửa sạch âm môn, gốc đuôi và hai bên mông.
Cắt móng tay đề phòng làm sây sát niêm mạc tử cung, vô trung tay và làm trơn tay bằng vaselin hay dầu paraphin.
Từ từ, cẩn thận đưa tay vào giữa màng thai và niêm mạc tử cung. Khi tìm được núm nhau mẹ, dùng ngón tay cái tách dần núm nhau con ra khỏi núm nhau mẹ.
Tuyệt đối không được bóc phần núm nhau mẹ, gây hiện tượng xuất huyết, tổn thương tử cung.
Quá trình tiến hành thủ thuật đòi hỏi mất nhiều thời gian, phải kiên nhẫn, cẩn thận, không vội vàng cẩu thả tránh gây hiện tượng sây sát, tổn thương niêm mạc tử cung.
Nếu con vật rặn quá mạnh, cổ tử cung co bóp nhiều, ức chế bằng phương pháp phong bế lõm khum đuôi (tiêm novocain vào huyệt quy vĩ).
Sau khi lấy hết nhau thai ra ngoài, rửa lại tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng ở nồng độ thích hợp. Rồi đặt trực tiếp kháng sinh vào tử cung.
Đối với ngựa sau khi sổ thai 1 giờ nhau thai không được đẩy ra khỏi tử cung cơ thể mẹ cần phải tiến hành can thiệp bằng thủ thuật bóc nhau ngay, do phương pháp bảo tồn gần như không có kết quả với ngựa.
Đối với lợn chủ yếu sử dụng phương pháp bảo tồn, thụt rửa tử cung bằng thuốc sát trùng.
Sau khi can thiệp cần phải theo dõi tiến triển của con vật, tăng cường trợ sức, chú ý công tác hộ lý, chăm sóc, nuôi dưỡng..
Sau khi can thiệp cần theo dõi và phòng các bệnh kế phát cho trâu bò và làm giảm các vi khuẩn gây bệnh vào tử cung trâu bò
Xử lý bằng phác đồ tiêm
Kháng viêm, giảm đau và hạ sốt: Dùng NASHER TOL liều: 1ml/20kg TT/ngày. Tiêm liên tục 1-2 mũi.
Kháng sinh tiêm phòng kế phát- giảm ảnh hưởng các bệnh vi khuẩn: NASHER AMX liều 1ml/10-20kg thể trọng dùng tiêm bắp 3 ngày liên tiếp.
Trợ sức trợ lực: Dùng ACTIVITON tiêm liều 1 ml/5-10 kg TT
Xử lý bằng phác đồ uống/ trộn
Hạ sốt-giảm đau: Dùng PARADISE Liều 1g/1-2 lít nước hoặc trộn 1-2g/1kg thức ăn.
Giải độc cấp: UMBROLIVER pha 0,1-1,0 ml/ L nước.
Bước 5:Tăng cường sức đề kháng
ZYMEPRO: Kích thích thèm ăn, tăng chuyển hóa và hấp thu thức ăn, pha 1g/1 lít nước uống.
PRODUCTIVE FORTE: Kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng và kích thích tăng trọng pha 1ml/1-2lít nước uống.
PRODUCTIVE AXIT SE: Thúc đẩy hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh, cải thiện quá trình tiêu hóa. Pha: 0.2-2 ml / L nước uống hoặc Trộn: 1-2 L/t thức ăn.






VIRUS
Vi khuẩn
PROTOZOA
KÝ SINH TRÙNG
NẤM
Chuồng trại
Giống
Dinh Dưỡng
Môi Trường
Chăm Sóc
Nước Uống





































































































































































